Tuesday, June 25, 2019

🍃 ĐỪNG ĐỂ STRESS CHỒNG STRESS


cách để 90% các vấn đề làm cho bạn  stress sẽ  tự biến mất



Quan sát những người bị stress triền miên, ta dễ nhận thấy, cuộc sống của họ có quá nhiều vấn đề. Cho dù có nỗ lực bao nhiêu thì họ cũng chẳng thể giải quyết hết, như một câu ngạn ngữ đã nói
“Không có vấn đề dễ, vì nếu dễ đã không gọi là vấn đề”.

Nhưng nếu ta chịu suy nghĩ một cách tích cực hơn, thì cuộc sống thực tế, không có nhiều vấn đề như thế. Chính cách nhìn sự việc tiêu cực đã tạo thêm nhiều vấn đề.

Tôi xin chia sẻ các suy nghĩ, có thể giúp ta, không vô tình tạo thêm vấn đề cho cuộc sống, để tâm trí ta thanh thản, cho dù cuộc sống còn nhiều khó khăn.

1. Không nên coi những chuyện, không phụ thuộc vào bản thân mình, là vấn đề. Liệu bạn có thể làm gì với thiên tai, với động đất sóng thần? Trước đây, tôi mỗi lần đi máy bay tôi thường rất lo lắng. Khi máy bay bị lắc do thời tiết xấu là tôi sợ toát mồ hôi. Nhưng sau khi ngộ ra, đã bước lên máy bay thì chuyện sống chết không còn phụ thuộc vào mình nữa, tôi có thể ngủ ngon ngay cả khi máy bay gặp thời tiết xấu nhất. Chuyện gia đình, xã hội cũng vậy. Có rất nhiều chuyện nằm ngoài tầm với của ta. Đừng để bị cuốn vào những chuyện không phụ thuộc vào mình. Hãy dành tâm trí, tập trung giải quyết những vấn đề, mà ta có ảnh hưởng trực tiếp.

2. Không nên coi những chuyện mang tính quy luật là vấn đề. Nếu bạn 18 tuổi và mặt đầy trứng cá thì đừng quá lo lắng. Qua một vài năm, trứng cá sẽ tự biến đi. Bản thân tôi, lần đầu bị gai cột sống, tôi rất lo. Nhưng khi được bác sĩ cho biết, ngoài 50 tuổi, cột sống bị vôi hoá là chuyện bình thường, tôi lại thấy bình tâm. Tuổi già và bệnh tật sẽ đến là lẽ đương nhiên. Con cái sẽ lớn và ngày càng xa chúng ta hơn. Nhưng đó không phải là vấn đề. Đó là quy luật của cuộc sống. Thay vì buồn rầu thì chúng ta nên vui vẻ vì dù con cái đã tự lập, nhưng thỉnh thoảng chúng vẫn còn nhớ đến bố mẹ.

3. Không nên coi những chuyện vặt là vấn đề. Cảm cúm thì ai mà tránh được, nhưng vài hôm sẽ tự khỏi. Đừng chuyện bé xé ra to. Trẻ con hàng xóm đánh nhau là chuyện của trẻ con. Nếu phụ huynh để chúng tự giải quyết, mấy bữa chúng sẽ làm lành, lại chơi với nhau. Nhưng nếu một phụ huynh coi đây là vấn đề, trầm trọng hoá nó, rồi kéo hai gia đình vào cuộc tranh luận đúng sai tốt xấu, thì hậu quả như thế nào không ai lường trước được.

4. Đừng bao giờ để bị mắc kẹt trong sự nghi ngờ. Tin hoặc không tin sẽ tốt hơn. Sự nghi ngờ luôn tạo ra rất nhiều vấn đề không có lời giải.

5. Không nên vơ các vấn đề của người khác, thành vấn đề của mình. Nếu các vấn đề của sếp, của nhân viên, của họ hàng, của vợ con… đều trở thành vấn đề của bạn, thì sớm muộn bạn cũng sẽ chết chìm. Hãy để mỗi người tự giải quyết vấn đề của mình.

Sau khi áp dụng cách tiếp cận này, tôi thấy 90% các vấn đề trước đây tự nhiên biến mất. 10% vấn đề còn lại, mà ta thực sự phải đối mặt và giải quyết, là không quá nhiều. Chừng đó không đủ làm bạn bị stress.

Vả lại, cuộc sống cũng cần có vấn đề, vì nếu hoàn toàn không có vấn đề gì nữa nó sẽ hết sức nhàm chán!

📖

HOANG MINH CHAU

Monday, June 24, 2019

🏃‍♀️ ...TRĂM TUỔI ĐÂU PHẢI LÀ GIÀ!

tuổi tác chỉ là con số, cu bà  103 tuổi phá kỷ lục thế giới và giành huy chương vàng bộ môn chạy bộ, cự ly 50m và 100m


Có rất nhiều nghiên cứu đã chứng minh rằng tập thể dục không những là một "liều thuốc" chữa bách bệnh mà còn giúp kéo dài tuổi thọ. Nhưng trên thực tế, chúng ta luôn nghĩ ra cách để trì hoãn việc tập luyện với cả ngàn lý do chẳng hạn như bận rộn chuyện công việc, gia đình, tuổi tác...

Tuy nhiên tấm gương về một bà cụ người Mỹ đã 103 tuổi đạt giải vô địch giải chạy toàn quốc sẽ khiến bạn suy nghĩ lại bản thân.

Tại Giải điền kinh quốc gia Hoa Kỳ dành cho người cao tuổi (từ 50 tuổi trở lên) vừa tổ chức tuần này tại Albuquerque, bà Julia Hawkins, 103 tuổi (bà sinh ngày 10/2/1916), là vận động viên lớn tuổi nhất.

Cách đây hai năm, khi bà 101 tuổi, bà lập kỷ lục quốc gia môn chạy tốc độ cự ly 100 mét với 39,62 giây, năm nay bà về đích chậm hơn trước 6 giây nhưng vẫn là tốc độ kỷ lục vì không có ai đạt đượctốc độ ấy khi đã ngoài 100 tuổi.

Bà Hawkins sống ở thành phố Baton Rouge, bên bờ sông Mississippi, tiểu bang Louisiana. Bà có cuộc hôn nhân hạnh phúc kéo dài 70 năm với người chồng đã mất trước bà đã lâu, có bốn con, ba cháu và một chắt. Bây giờ bà dành thời gian cho bạn bè, hầu như ngày nào bà cũng ra ngoài ăn trưa với bạn bè, chứ không ăn cơm ở nhà.

Hàng ngày bà dậy sớm tập thể dục, đi bộ hoặc chạy xe đạp. Công việc của bà trong mấy chục năm hưu trí là dành thời gian chăm nom cây cối và các khóm hoa ở vườn nhà. Bà rèn luyện để chuẩn bị thi đấu bằng cách chạy trên hè phố nơi phố nhà, bà vẽ vạch lên hè để biết chỗ nào là 50 mét, chỗ nào là 100 mét để luyện chạy về đích.

Bà được mọi người tặng cho biệt danh là cụ bà ‘bão táp’ do tinh thần tốc độ bà hàng ngày phấn đấu. Nhưng bà bảo bà thích được gọi là ‘hồng hoa’ hơn vì bà thích hoa lắm, lúc nào bà cũng gài đoá hoa hái từ vườn nhà lên mái tóc, kể cả khi mặc đồ thể thao thi đấu trên đường chạy.

Bà sống một mình, nhưng hàng ngày có người giúp việc đến lúc buổi tối chuẩn bị cho bà bữa ăn nhẹ rồi ngủ lại đến sáng làm cho bà bữa sáng rồi về. Bà bảo cách thu xếp ấy rất thích hợp với bà.

Ở tuổi đó, lại năng động nhường ấy, không ít người muốn biết bí quyết sống khoẻ của bà là gì. 
Bà bảo thì cứ cố gắng vận động, lúc nào cũng có việc gì đó làm cho chân tay bận rộn. 
Giữ thân hình vừa phải, đừng để cơ thể bị quá cân, luôn giữ mức cân trong tầm kiểm soát bằng cách vận động và thể dục. Quan trọng nữa là phải tìm cho mình có được thú vui, có sự hào hứng với điều gì mà mình quan tâm. Có thú vui, có lao động, có sự quan tâm với xung quanh làm cho cả tinh thần và thể chất của mình đều luôn hoạt động được là tốt nhất. 

Điều làm bà cảm thấy cuộc đời có ý nghĩa nhất là được thấy cả bốn đứa con đều trưởng thành nay là những người đàng hoàng, tử tế và có công ăn việc làm, có sự nghiệp thành đạt, các cháu nội ngoại của bà đều học giỏi và ngoan ngoãn. 
Bà bảo đối với bà đó là niềm tự hào cao nhất – chứ còn cái vụ chạy thi phá kỷ lục mà báo chí và tivi đưa tin khắp nơi kia thì đối với bà cũng chỉ là chuyện vui vẻ ‘hoa lá cành’ thôi.

Ngẫm nghĩ một chút, bà trải lòng mình: 
Hãy giữ ngọn lửa say mê, dù là điều gì đi nữa, đọc sách giấy, nghe sách ghi băng, chụp ảnh, vẽ tranh, học đàn, chơi nhạc, chơi thể thao, tuỳ cơ ứng biến với hoàn cảnh để có cho mình một niềm vui riêng gì đó mà không phải trông chờ vào ai mang niềm vui tới cho mình. Hãy chiêm nghiệm và cảm nhận những giây phút huyền diệu mà cuộc đời quý giá này đã cho ta từng được chứng kiến. Tôi đã làm như thế trong nhiều thập kỷ. Tôi thường nhớ lại cảnh mặt trời lên trên biển, cảnh hoàng hôn trên bến cảng, cảnh cầu vồng sau cơn mưa, những đàn chim ríu rít trên cây, những bản nhạc hay từng được nghe, và những điều ghi trong tâm trí tôi không bao giờ phai là những lời yêu thương mọi người đã từng dành cho tôi trong bao nhiêu sự kiện cuộc đời. 

Đối với tôi, đó là những giây phút huyền diệu tạo cho tôi năng lực sống. Mà các bạn có biết không, tất cả những điều huyền diệu ấy đều là những thứ cho không. Cảm nhận ấy sẽ còn mãi với tôi, đối với tôi là thế. Tôi mong mọi người hãy luôn mở lòng đón nhận những phút giây huyền diệu ấy để cho chính mình cảm thấy trọn vẹn và vui sướng, dù ở tuổi nào hay trong hoàn cảnh nào, nếu được như thế, sẽ không cảm thấy lẻ loi và cô đơn”.

Năm tháng tập đạp xe đã rèn luyện đôi chân bà trở nên chắc khỏe hơn. Vì thế, dù đã hơn 100 tuổi nhưng đầu gối, lưng và hông vẫn rất ổn. Chỉ duy có thị lực của bà là hơi kém.
"Tôi lo lắm, cảm giác không nắm bắt được khi có vấn đề gì xảy ra. Hy vọng là mắt tôi sẽ vẫn sáng cho đến lúc cuối đời".

Sunday, June 23, 2019

♻ THÓI QUEN ĐƠN GIẢN GIÚP GÌN GIỮ MÔI TRƯỜNG, ĐẶC BIỆT LÀ HẠN CHẾ RÁC THẢI NHỰA DÙNG MỘT LẦN























Những thói quen tưởng chừng như rất đơn giản nhưng nếu mọi người thường xuyên duy trì nó là môi trường sẽ được bảo vệ rất nhiều
"Bảo vệ môi trường" - 4 chữ mà vừa nghe hẳn ai cũng nghĩ đến một vấn đề cực kì vĩ mô mà chắc chỉ có các nguyên thủ quốc gia hay những tổ chức mang tầm quốc tế mới có thể giải quyết được. Nhưng không, không một tổ chức hay cá nhân nào có thể ngày 1, ngày 2 mà giúp môi trường cải thiện được.

Môi trường chỉ được bảo vệ nếu từng cá nhân có ý thức trong từng hành động, thói quen để tiết kiệm và tái tạo các nguồn năng lượng. Mỗi người một hành động đủ nhỏ nhưng khi nó được nhân rộng sẽ tạo nên một sức mạnh lớn lao.
Mỗi ngày, chính bạn cũng có thể góp phần bảo vệ môi trường bằng cách duy trì 20 thói quen này:

💯
  Một chiếc túi nilon phải mất từ 400-600 năm mới có thể phân huỷ trong khi túi vải thân thiện với môi trường hơn và có thể tái sử dụng nhiều lần
   Tương tự, chai nhựa cũng mất 70-450 năm mới có thể phân huỷ. Mang theo bình nước vừa tiết kiệm được tiền lại góp phần bảo vệ môi trường.
💦  Tắm bằng chậu có thể tiết kiệm một lượng lớn so với tắm bồn hay tắm vòi sen
 ✅ Mang theo một chiếc ống hút tre là mỗi ngày, bạn sẽ không thải ra môi trường ít nhất 2-3 chiếc ống hút nhựa nữa
 Không chỉ khi đánh răng, hãy tiết kiệm nước bằng cách tắt vòi nước hoặc tái sử dụng nước
  Hãy tận dụng ánh sáng mặt trời để tiết kiệm điện nhé! Ánh sáng tự nhiên cũng tốt cho mắt hơn đấy!
    đừng quá lạm dụng các loại máy sấy quần áo trong khi bạn hoàn toàn có thể phơi chúng dưới ánh sáng tự nhiên mà không tốn một đồng nào
 ⛽  Tiết kiệm xăng và giảm thiểu lượng khói thải ra môi trường
🌳    Tiết kiệm giấy là bạn đã góp phần giảm thiểu số lượng cây bị chặt đi mỗi năm

✅  Khi bạn mở và đóng cửa tủ lạnh thường xuyên, máy nén phải điều chỉnh nhiệt độ liên tục để duy trì độ lạnh và độ ẩm có nhất định bên trong tủ lạnh nên sẽ tiêu tốn nhiều điện năng hơn đấy!
 ✅ Chỉ cần sắp xếp 1 cách thông minh thứ tự quần áo khi ủi là bạn đã không cần khóc thét khi nhận hoá đơn tiền tiện mỗi tháng rồi!
    Có nhiều cách để đậy kín đồ ăn lại vì thế, nếu không phải là trường hợp bất khả kháng thì hãy hạn chế sử dụng màng bọc thực phẩm nhé!
 🎈 Bóng bay làm từ cao su khó phân hủy, cộng với khí hirdo hoặc helium sẽ dễ gây nổ và ảnh hưởng đến môi trường
 ✅ Góp phần làm đường phố, nhà ở xanh sạch đẹp và đảm bảo rác thải sẽ được về đúng chỗ!
  Rác chính là báu vật nếu chúng được phân loại và tái chế
 🍽 Hãy nấu hoặc gọi đồ ăn vừa với khẩu phần của mình! Đừng để đồ ăn thừa mứa trong khi có hàng triệu người đang chết vì đói
 ✅ Tiết kiệm giấy là bảo vệ rừng. Rừng sẽ khiến không khí bớt ô nhiễm và còn giữ đất tránh bị xói mòn
 Các sản phẩm có nguồn gốc tự nhiên bao giờ cũng tốt cho sức khoẻ và góp phần bảo vệ môi trường đấy

💰 PHÚC LỢI XÃ HỘI CAO : CON DAO HAI LƯỠI


Nói đến sự ưu việt của các quốc gia phát triển, hẳn không ít người sẽ nhắc đến sự phát triển kinh tế, ổn định xã hội cũng như chế độ phúc lợi hấp dẫn. Tuy nhiên, phúc lợi cao có thực sự là chính sách góp phần tạo nên ổn định xã hội và phát triển kinh tế hay không?




Năm 1942, nhà kinh tế học người Anh, William Beveridge đã đề xuất chủ trương xây dựng “phúc lợi quốc gia”, vạch ra “một hệ thống an sinh xã hội toàn diện và phổ quát mang lại lợi ích cho tất cả công dân”. Chế độ phúc lợi cao của xã hội hiện đại đã mở rộng thành một hệ thống bao phủ tất cả các phương diện như thất nghiệp, y tế, dưỡng lão, tai nạn lao động, nhà ở, giáo dục, chăm sóc con cái v.v.., vượt xa khỏi phạm vi trợ giúp khó khăn tạm thời của từ thiện truyền thống.

Sự trợ giúp của chính phủ, nhất là việc bảo vệ xã hội trước những sự cố ngoài ý muốn cũng như thiên tai là hợp lý. Tuy nhiên, bản thân chính phủ không tạo ra giá trị, nguồn tiền để thực hiện chính sách phúc lợi cao là đến từ thu thuế hoặc quốc trái (nợ của quốc gia), cuối cùng thì đều đổ dồn áp lực lên người dân.


1. Phúc lợi xã hội tỷ lệ thuận với thu thuế cao
Trong các nước thành viên của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế quốc tế (OECD), Mỹ là nước có phúc lợi chính phủ thấp, thấp hơn mức trung bình. Một báo cáo của Tổ chức Heritage Foundation năm 2014 của Mỹ chỉ ra rằng, năm 2013 có 100 triệu người Mỹ (chiếm 1/3 tổng dân số) nhận các loại phúc lợi (không bao gồm bảo hiểm an toàn xã hội và bảo hiểm y tế liên bang), bình quân mỗi người nhận mức trợ cấp tương đương 9.000 USD. Theo số liệu công bố của Cục Thống kê Mỹ, năm 2016 số người nghèo chiếm 12,7%. Tuy nhiên, cuộc sống sinh hoạt của những người nghèo ở Mỹ hẳn sẽ khiến không ít người phải giật mình. Căn cứ điều tra của Chính phủ, 96% bố mẹ trong những gia đình nghèo nói rằng con cái của họ không bị đói, 49,5% gia đình sinh sống ở những căn nhà một phòng ngủ, 40% số những gia đình khác sinh sống trong những căn nhà hai phòng ngủ, chỉ có 9% gia đình sống trong những căn nhà di động; 80% gia đình có điều hòa; 40% gia đình có tivi tinh thể lỏng; 3/4 gia đình có xe hơi.

Phần lớn người dân ở các nước Bắc Âu và Tây Âu hưởng thụ phúc lợi từ chính phủ còn cao hơn rất nhiều ở Mỹ. Ví dụ, 
hệ thống an sinh “từ khi sinh đến khi chết” ở Đan Mạch, bao gồm cả giáo dục miễn phí và chăm sóc y tế miễn phí cũng như rất nhiều các khoản phúc lợi khác, ngay cả những công dân giàu có nhất cũng được hưởng. 
✅   Trước khi kinh tế Hy Lạp xuất hiện khủng hoảng thì người Hy Lạp cũng được hưởng phúc lợi cao, một năm được lĩnh 14 tháng lương, 61 tuổi có thể nghỉ hưu, lương nghỉ hưu bằng hơn 90% lương khi còn công tác; 
✅   người Thụy Điển có thể nghỉ ốm 550 ngày liên tục v.v..
✅    Tại Pháp, ngoài hệ thống bảo hiểm y tế gần như bao cấp hoàn toàn, các hệ thống phúc lợi cho người có thu nhập thấp, gia đình đông con, sinh viên, người thất nghiệp cũng rất hào phóng. Chẳng hạn, một người không có thu nhập sẽ được trợ cấp RSA để có mức thu nhập tối thiểu là 550,93 Euro/tháng. Nếu người này có con nhỏ phụ thuộc, số tiền trợ cấp sẽ tăng lên, khoảng 220 Euro/tháng cho một trẻ.
Phúc lợi cao của các quốc gia phát triển ở phương Tây cần phải chi tiêu một lượng lớn nguồn tiền thu được. Nếu như không có thu thuế cao cũng như không có sự chuyển dịch một lượng lớn tài sản tư nhân đến các lĩnh vực công cộng thông qua nộp thuế hoặc là việc vay nợ của quốc gia, thì các chính sách phúc lợi cao sẽ không thể thực hiện được.

Ở Mỹ, quá nửa số thuế thu được là dành cho phúc lợi xã hội và y tế, nhưng số thuế này đến từ đâu, hơn 80% là đến từ thuế thu nhập cá nhân và thuế an toàn xã hội, còn 11% là đến từ thuế thu nhập doanh nghiệp. Chế độ phúc lợi xã hội ở rất nhiều các quốc gia phương Tây còn hơn thế nữa, theo đó yêu cầu về thu thuế càng cao hơn.

Căn cứ số liệu năm 2016 của OECD, thống kê trong 35 quốc gia có nền kinh tế thị trường thì có 27 quốc gia có thuế suất thu nhập lao động lớn hơn 30% và cao nhất là 54%, ở vị trí thứ hai là 49,4%, đa phần đều ở các quốc gia châu Âu. Đồng thời, khi ăn uống và mua sắm ở châu Âu còn phải chịu thuế trực thu (Direct tax), phần này do những người tiêu dùng chịu, có những quốc gia thuế trực thu cao đến khoảng 20%. Nếu tăng thuế thu nhập doanh nghiệp và các loại thuế lặt vặt khác, thì tổng thuế suất sẽ còn cao hơn nữa.

Một nghiên cứu khác chỉ ra rằng, khoảng những năm 1900, những người nộp thuế ở nhóm 20 quốc gia có kinh tế phát triển đều nộp thuế rất thấp. Ví dụ như thuế suất cao nhất ở Ý những năm 1900 là 10%, Nhật Bản và New Zealand là 5%. Tuy nhiên đến năm 1950, thuế suất cao nhất bình quân ở 20 quốc gia này đã vượt quá 60%, sau đó dần hạ xuống đến mức khoảng 40% ngày nay.

Thu thuế cao không chỉ là nhắm đến người giàu, những người nghèo cũng bị ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp. Người giàu còn có thể thông qua rất nhiều các biện pháp kinh doanh và các loại phương thức hợp lý để tránh thuế, nhưng người nghèo khi thu nhập tăng lên thì có khả năng đối diện với việc mất đi một số loại phúc lợi xã hội, ở một phạm vi thu nhập nhất định thì thậm chí còn xuất hiện vấn đề là càng lao động nhiều thì nộp thuế càng nhiều, phúc lợi nhận được càng ít.

Về bản chất, thu thuế cao ở các quốc gia phương Tây là tư liệu sản xuất do cá nhân chiếm hữu nhưng tài sản làm ra được sẽ bị nhà nước chiếm hữu thông qua hình thức thu thuế cao, được phân phối lại trở thành tài sản công cộng. 

Thu thuế cao cũng chính là cưỡng chế một lượng lớn lớn tài sản tư nhân đưa vào tay của nhà nước để nhà nước thống nhất tiến hành phân phối lại tài sản vào hoạt động kinh tế, đằng sau nó còn tiềm ẩn việc tiến gần đến phế bỏ tài sản tư hữu.

2. Phúc lợi xã hội và thu thuế cao ở phương Tây có thực sự ưu việt?
(1) Phúc lợi cao gây suy thoái đạo đức và gia tăng mâu thuẫn giữa người giàu và người nghèo
Từ góc độ kinh tế, bản chất của phúc lợi quốc gia là một số người cung cấp tiền để một số người khác chi tiêu. Chính phủ sẽ đóng vai trò trung gian là người phân phối lại tài sản, khiến cho áp lực đạo đức của hành vi “không làm mà hưởng” của những người hưởng thụ phúc lợi giảm đi rất nhiều. Ở phương diện này, sự băng hoại quan niệm đạo đức tại Bắc Âu trong chế độ phúc lợi cao là cực kỳ rõ ràng.

Nima Sanandaji, học giả người Thụy Điển đã dùng số liệu của “cuộc điều tra giá trị quan thế giới” để làm rõ vấn đề này. Vào đầu những năm 80 của thế kỷ trước có 82% người Thụy Điển và 80% người Na Uy đồng ý rằng “việc nhận phúc lợi của chính phủ mà bản thân không nên nhận là không đúng”; nhưng cuộc điều tra tiến hành năm 2005 và năm 2008 chỉ ra rằng, chỉ có 56% người Na Uy và 61% người Thụy Điển tin rằng “nhận phúc lợi của chính phủ mà bản thân không nên nhận là không đúng”.

Dưới chính sách phúc lợi xã hội, những điều con người nhận được khi nỗ lực làm việc là rất ít, chính sách phúc lợi khuyến khích một số người sinh sống dựa vào phúc lợi của chính phủ. 
Theo sự thay đổi của thời gian, quan niệm đạo đức của con người sẽ có sự phát sinh biến dị một cách vô thức. Những người trưởng thành trong chế độ phúc lợi, có rất nhiều người sẽ dần dần mất đi tinh thần cần cù, chịu trách nhiệm, độc lập, nỗ lực vươn lên, khiến cho việc “thụ hưởng phúc lợi” trở thành một loại quyền lợi, thậm chí thành một loại “nhân quyền”, dưỡng thành tập quán lệ thuộc vào chính phủ, thậm chí uy hiếp ngược lại chính phủ.

Đặc biệt, tại Mỹ hay châu Âu, số lượng dân nhập cư ngày càng nhiều và đó chính là lực lượng ỷ lại vào hệ thống phúc lợi xã hội, thậm chí có một số cộng đồng không chịu hòa nhập và đóng góp cho cộng đồng nơi mình cư trú.

Không chỉ là vậy, chế độ phúc lợi cao còn tước đoạt đi quyền lợi làm việc thiện của những người cho đi trong từ thiện truyền thống, cũng tước đoạt cơ hội cảm ơn của những người nhận ơn. 
Phương thức giúp đỡ người nghèo trong xã hội truyền thống là hành động tự chủ: hoặc là cá nhân xuất tâm cảm thương trực tiếp cứu trợ những người cần cứu trợ, hoặc là cá nhân quyên tặng cho những tổ chức từ thiện (như giáo hội) sau đó thông qua các tổ chức từ thiện để cứu trợ những người nghèo khó.





Tocqueville, nhà tư tưởng người Pháp quan sát thấy, mỹ đức cho đi và cảm ơn trong xã hội là tương hỗ bổ trợ cho nhau, mối quan hệ tình cảm hai chiều như vậy, có thể hóa giải mâu thuẫn và sự đối lập giữa hai giai tầng bần phú, do từ thiện cá nhân khiến cho các cá thể cụ thể trong hai giai tầng liên hệ với nhau thông qua tình cảm và lợi ích. 
Ông cũng chỉ ra, chế độ phúc lợi làm tăng thêm mâu thuẫn giữa người giàu và người nghèo. 
✅ Người giàu bị cưỡng chế trưng thu một bộ phận tài sản, khiến họ không cách nào cảm thấy đồng tình khi nhìn những người được cứu trợ. Ngược lại, họ chỉ cảm thấy oán hận và khinh miệt với những người ở giai tầng nghèo khó, coi những người này như những “người xa lạ tham lam”. 
✅ Cùng với đó, trong tâm người nghèo khó cũng sẽ sinh sự bất mãn, bởi vì sự cứu trợ về vật chất bị xem là việc đương nhiên hơn nữa cũng không thể khiến người ta no đủ.

Loại bất mãn này biểu hiện cực kỳ rõ ràng khi khủng hoảng kinh tế Hy Lạp bộc phát, nhưng đó không chỉ là khoảng cách giữa những người giàu nhất và những người nghèo nhất, mà là khoảng cách giữa người người giàu và phần lớn những người ở tầng lớp trung lưu. Ở Hy Lạp, người ta không muốn đóng thuế cao, toàn dân trốn thuế nghiêm trọng.

Bài báo A National Sport No More trên tạp chí The Economist đăng ngày 3/11/2012 cho biết, quan chức Hy Lạp gọi trốn thuế là “phong trào toàn dân”. Một khi kinh tế xuất hiện vấn đề, người giàu trốn thuế mới là điều khó coi. Chính phủ Hy Lạp vì không muốn làm mất lòng cử tri, trong thời gian dài thông qua việc phát hành trái phiếu để bù đắp cho thâm hụt ngân sách do việc thu thuế không đủ, để duy trì mức phúc lợi cao như các thành viên khác của Liên minh châu Âu. Sau khi khủng hoảng bộc phát, khi chính phủ cần phải giảm thấp phúc lợi thì một làn sóng bất mãn quy mô lớn từ người dân vốn đã quen được nuông chiều bằng phúc lợi cao bùng phát, dân chúng hướng mũi nhọn đến những người giàu, yêu cầu thu thuế nhiều hơn từ những người giàu. Đến cùng là có phải tầng lớp giàu có hay tầng lớp trung lưu chịu trách nhiệm cho cuộc khủng hoảng kinh tế này không? Đây là vấn đề nhức nhối của chính phủ.

Một ví dụ dễ thấy khác nữa chính là Phong trào áo vàng ở nước Pháp trong thời điểm cuối năm 2018 vừa qua. Đây là sự bùng phát khi các chính sách về thuế và phúc lợi xã hội của Tổng thống Macron theo khuynh hướng ưu đãi tầng lớp siêu giàu và thắt chặt phúc lợi của tầng lớp thu nhập thấp. Điều đáng nói là không chỉ ở Pháp, mối bất ổn âm ỉ cũng đang hiện hữu ở một số nước phát triển khác tại châu Âu và có thể bùng phát bất cứ lúc nào. Nguyên nhân sâu xa là do chế độ phúc lợi ở các quốc gia này khiến cho thâm hụt ngân sách tăng, và phải liên tục bù đắp bằng các nguồn thuế.


Rõ ràng, chế độ phúc lợi làm tăng cường quan niệm “không làm mà hưởng”, làm giảm đi nỗ lực làm việc và không khí tích cực cố gắng của xã hội, ngoài ra cũng sẽ tạo thành tổn thương cho nền kinh tế.

(2) Chế độ phúc lợi tạo nên “văn hóa bần cùng”
Năm 2012, bài báo có tiêu đề “Để những đứa trẻ không biết chữ” trên tờ The New York Times đã nêu lên một thực trạng: rất nhiều phụ huynh cho phép con cái của mình bỏ học chỉ bởi họ lo lắng một khi trẻ đi học sẽ biết đọc và không còn đủ điều kiện nhận trợ cấp mù chữ mỗi tháng. Một số gia đình nghèo này nhận được một khoản tiền 698 USD từ “Chương trình Trợ cấp Bảo trợ” mỗi tháng cho đến khi đứa trẻ được 18 tuổi. Điều này tạo ra việc phụ huynh thà từ bỏ giáo dục trẻ em còn hơn là bị mất đi những khoản trợ cấp trước mắt.

Khoảng 40 năm trước, chương trình này trợ cấp cho những gia đình có trẻ em thực sự có khuyết tật về mặt trí tuệ hoặc về mặt sinh lý. Tuy nhiên hơn 55% “trẻ em khuyết tật” nhận trợ cấp hiện nay không thể xác định rõ ràng có phải là “người chậm phát triển trí tuệ” hay không. Tại Mỹ hiện có khoảng 1,2 triệu trẻ em thuộc diện này và cần 9 tỷ USD tiền trợ cấp mỗi năm từ những người nộp thuế.

Hàng trăm năm nước, Tocqueville đã dự kiến được rằng, chế độ phúc lợi sẽ không có cách nào phân biệt được tính chân thực của đối tượng nhận trợ cấp. Từ khía cạnh kinh tế mà nói, lạm dụng phúc lợi sẽ tạo thành gánh nặng tài chính, nhưng đối với một số trẻ em nghèo mà nói, chế độ phúc lợi mang đến những bi kịch còn lớn hơn. Nghiên cứu năm 2009 đã thể hiện rõ ràng rằng 2/3 số trẻ em nghèo khi đến 18 tuổi đều trở thành những người thành niên thụ nhận trợ cấp của chương trình tàn tật, nói cách khác suốt đời họ cũng không thể thoát khỏi hoàn cảnh bần cùng.

Phúc lợi có thể có tác dụng trợ giúp đối với những người gặp tai nạn do nguyên nhân ngoài ý muốn (như tai nạn lao động, bệnh tật, tai nạn tự nhiên v.v..), nhưng nó không thể giải quyết vấn đề nghèo khó từ căn bản được.
 Lấy nước Mỹ làm ví dụ, tính đến năm 2014, trong vòng 50 năm từ khi tổng thống Johnson bắt đầu “chiến tranh chống nghèo khó” đã tiêu tốn 2,2 nghìn tỷ USD từ người nộp thuế. Nhưng số liệu của Cục Thống kê Mỹ chỉ ra rằng, ngoại trừ hơn chục năm đầu tiên, tỷ lệ người nghèo khó ở Mỹ quá khứ gần 40 năm qua cơ bản liên tục ổn định: tỷ lệ nghèo khó không vì thông qua cứu trợ mà giảm xuống.

William Arthur Niskanen, nhà kinh tế học người Mỹ chỉ ra rằng, chế độ phúc lợi tạo thành “văn hóa bần cùng”, bao quát nghèo khó, tính phụ thuộc vào phúc lợi, thất nghiệp, phá thai v.v.. 
Một nghiên cứu kiểm nghiệm của Nicholas biểu thị rằng, trong Chương trình Trợ giúp gia đình có trẻ em (AFDC), thu nhập của những người thụ nhận cứu trợ tăng thêm 1%, sẽ khuyến khích số người thụ nhận tăng 3%, số người nghèo khó tăng 0,8%, tỷ lệ phụ nữ sinh con không kết hôn tăng 2,1%, đáng nói là số lần phá thai cũng tăng lên tương ứng. Điều này chứng thực rằng tính kích thích ngược của phúc lợi cao tạo thành sự phụ thuộc của con người vào phúc lợi, làm giảm ý thức trách nhiệm của con người. Phúc lợi trở thành trợ thủ làm tỷ lệ sinh con không kết hôn tăng cao, tạo thành càng nhiều hơn nữa những người nghèo khó.

Mặc dù mức phúc lợi không ngừng tăng lên, 30 năm qua khoảng cách giàu nghèo ở Mỹ đã được nới rộng, tiền lương thu nhập bình quân (bỏ qua yếu tố lạm phát) tăng trưởng chậm, tài sản chủ yếu chảy vào tầng lớp giàu có nhất, thậm chí xuất hiện “công việc của người nghèo”… Ba nhà kinh tế học Martin Halla, Mario Lackner và Friedrich G. Schneider sau khi tiến hành phân tích tính nguy hiểm của phúc lợi quốc gia đã chỉ ra, số liệu đã chứng thực rằng phúc lợi quốc gia xác thực là sẽ làm suy yếu động lực tích cực cố gắng của xã hội, nhưng hiệu ứng này chỉ có thể thực sự biểu hiện ra sau một thời gian rất lâu dài. Ba vị học giả kết luận rằng: Phúc lợi quốc gia phá hủy đi cơ sở kinh tế của chính bản thân quốc gia đó.

Vậy thì, chính sách phúc lợi xã hội cùng với thu thuế cao có phải là lời giải cho bài toán ổn định xã hội, bền vững kinh tế và hạnh phúc cho người dân hay không?

Minh Ngọc

📖

Tài liệu tham khảo:

1. Rachel Sheffield và Robert Rector, “The War on Poverty after 50 Years” Báo cáo của Heritage Foundation, 15-9-2014, https://www.heritage.org/poverty-and-inequality/report/the-war-poverty-after-50-years

2. Max Galka, “The History of U.S. Government Spending, Revenue, and Debt (1790-2015) Metrocosm, 16-2-2016, http://metrocosm.com/history-of-us-taxes/

3. Báo cáo của OCED: “OECD Tax Rates on Labour Income Continued Decreasing Slowly in 2016”, http://www.oecd.org/newsroom/oecd-tax-rates-on-labour-income-continued-decreasing-slowly-in-2016.htm

4. Kenneth Scheve và David Stasavage, Taxing the Rich: A History of Fiscal Fairness in the United States and Europe (Kindle Locations 930-931) (Đánh thuế người giàu: Lịch sử về tính công bằng tài chính ở Hoa Kỳ và châu Âu) (Princeton: Princeton University Press, Kindle Edition).

5. Nima Sanandaji, Scandinavian Unexceptionalism: Culture, Markets, and the Failure of Third-Way Socialism (Văn hóa, thị trường và thất bại của chủ nghĩa xã hội thứ ba) (London: Institute for Economic Affairs, 2015).

6. Alexis de Tocqueville, Memoir on Pauperism, trans. Seymour Drescher (Lancing, West Sussex, UK: Hartington Fine Arts Ltd, 1997).

7. Alexis de Tocqueville, Memoir on Pauperism, trans. Seymour Drescher (Lancing, West Sussex, UK: Hartington Fine Arts Ltd, 1997).

8.“A National Sport No More,” The Economist, November 3rd, 2012, https://www.economist.com/europe/2012/11/03/a-national-sport-no-more

9. Martin Halla, Mario Lackner và Friedrich G. Schneider, “An Empirical Analysis of the Dynamics of the Welfare State: The Case of Benefit Morale (Một phân tích thực nghiệm về động lực của phúc lợi quốc gia: Trường hợp của tinh thần lợi ích)” Kyklos, 63:1 (2010), 55-74.

10. Nicholas Kristof, “Profiting from a Child”s Illiteracy” New York Times, December 7, 2012, https://www.nytimes.com/2012/12/09/opinion/sunday/kristof-profiting-from-a-childs-illiteracy.html

11. Alexis de Tocqueville, Memoir on Pauperism, trans. Seymour Drescher (Lancing, West Sussex, UK: Hartington Fine Arts Ltd, 1997)

12. Nicholas Kristof, “Profiting from a Child”s Illiteracy/Lợi ích từ trẻ em mù chữ,” New York Times, December 7, 2012, https://www.nytimes.com/2012/12/09/opinion/sunday/kristof-profiting-from-a-childs-illiteracy.html

13. Robert Rector, “The War on Poverty: 50 Years of Failure, Cuộc chiến chống đói nghèo sau 50 năm” Báo cáo Heritage Foundation, 23/9/2014, https://www.heritage.org/marriage-and-family/commentary/the-war-poverty-50-years-failure

14. U.S. Census Bureau, “Annual Social and Economic Supplements, Current Population Survey, ”, 1960 to 2016 (Phụ lục Kinh tế và Xã hội thường niên, “Khảo sát dân số hiện tại, từ năm 1960 đến 2016)

15. Niskanen, A., “Welfare and the Culture of Poverty/ Phúc lợi và Văn hóa nghèo khó” The Cato Journal, 16:1(1996), https://object.cato.org/sites/cato.org/files/serials/files/cato-journal/1996/5/cj16n1-1.pdf

16. Walter E. Williams, “The True Black Tragedy: Illegitimacy Rate of Nearly 75%” cnsnews.com, May 19, 2015, https://www.cnsnews.com/commentary/walter-e-williams/true-black-tragedy-illegitimacy-rate-nearly-75

///

Thursday, June 20, 2019

🏡 ...NGÔI NHÀ 3 TẦNG

 🏡 ...VỚI 160 TRIỆU ĐỒNG, VỢ CHỒNG TRẺ LIỀU MÌNH MUA NHÀ 3 TẦNG HÀ NỘI KHIẾN AI CŨNG SỬNG SỐT VÀ ĐÂY LÀ TRỌN BỘ BÍ QUYẾT





Anh Trần Nhật (1991) và chị Lê Thu Hương (1993) kết hôn từ năm 2013. Với mức thu nhập hiện tại khoảng 30 triệu/tháng nhưng chi phí ăn, ở, thuê nhà, nuôi con tốn kém nên sau 5 năm kết hôn 2 vợ chồng chỉ tiết kiệm được 160 triệu.


"Mình ấp ủ kế hoạch mua nhà từ khi còn là sinh viên. Lúc đấy thấy chị gái mình mua chung cư, mình thực sự đã đặt mục tiêu cho bản thân nhất định sẽ mua được nhà khi 27 tuổi. Sau khi lấy chồng mình bắt đầu truyền động lực đó cho chồng mình. Sau khi sinh con xong, chúng mình càng có động lực hơn" - Chị Hương chia sẻ.


Rồi hai vợ chồng bắt đầu trò chuyện với nhau, tưởng tượng ngôi nhà của mình mua sẽ ra sao, cần khoảng bao nhiêu tiền... Dù khi ấy vợ chồng không có xu nào trong tay cả nhưng hễ thấy bạn bè hay ai có nói chuyện về nhà cửa là về kể lại với nhau để nuôi nấng động lực kiếm nhà.


Đến thời điểm năm 2017, 2 vợ chồng chị Hương chính thức bắt tay vào tìm hiểu, tham khảo giá chung cư cũng như nhà đất ở nhiều khu vực. Cả 2 cũng xác định tiền ít nên sẽ tập trung ở các khu vực ngoại thành, khu ven đô...


"Vợ chồng mình tìm và tham khảo về nhà đất từ năm 2017 đấy. Giá thì cao, toàn nhà 1,4 – 1,6 tỷ thôi mà còn xa (khu Thanh Trì, Hà Trì, Đa Sỹ, Hà Đông)... Cả nhà đất và chung cư vợ chồng mình đều xem xét cả nhưng không ưng cái nào. Bọn mình cũng xác định nếu ở chung cư thì mua căn nào tầm 1 tỷ, có sẵn đồ đạc chủ cũ để lại thì mua. Còn không tầm 1,2 tỷ là tìm mua nhà đất."


Sau đến cuối năm 2018, qua tìm hiểu thì chị Hương biết đến 1 căn nhà đất ở La Phù - Hoài Đức rất ổn nên tới xem. Hồi 2018 đất ở khu này vẫn rẻ, trong ngõ rộng rãi chỉ rơi vào tầm 13-14tr/m2. Đi lên nội thành cũng không xa hơn Hà Đông là bao. Tầm 450tr/30m2 phân lô bán rất nhiều. Nếu vay mượn cố thêm 2 bên nội ngoại và bạn bè có thể xây tạm một nhà cấp 4 có gác xép ở. Tiền thuê nhà hàng tháng hai vợ chồng có thể chuyển sang tích cóp trả dần.


Vui mừng với ý tưởng mới. Hai vợ chồng về quê dẫn ông bà nội lên xem đất. Nhưng do ngõ bé, oto của bố anh Nhật không vào nổi ngõ, cũng không đỗ lại được vì đường làng cũng khá hẹp. Người dân thì giục xe đi tiến lên.

Bực mình ông quát luôn hai vợ chồng :

- Đường đường là con giám đốc bệnh viện huyện mà lại ở cái nhà như thế à. Tao không đồng ý.
.
.
.
.
.
.
,
.
.
.
Thế rồi ông gọi hai vợ chồng về quê đáp ngay cho 5 tỉ vào mặt. Hiện giờ hai anh chị đang ở cái nhà gần Trích Sài Hồ Tây, ngõ rộng rãi oto vào được. 160tr kia, anh chị dùng để mua tủ lanh.
.
tác giả KIN YAN



Tuesday, June 18, 2019

🇩🇰 BRøNDBY HAVEBY, DENMARK

quy hoạch siêu đẳng 100% nở hậu






Nhiếp ảnh gia Henry Do đã bắt được khoảnh khắc đáng kinh ngạc của khu quy hoạch “Colony Garden” tại Copenhagen, Đan Mạch từ trên cao.

Colony Garden (Brøndby Haveby) là khu đất dành riêng cho việc canh tác rau củ quả bên trong thủ đô Đan Mạch, các cư dân thành phố có thể mua một suất nhà ở tại đây để tiện cho việc chăm bón vườn cây của họ. Thành phố chỉ cho phép dân cư sinh sống tại Colony Garden từ tháng 4 đến tháng 10 hàng năm, vì ở đây vào mùa đông không thể trồng trọt được gì.

Không gian quy hoạch cực kỳ ngăn nắp và đẹp mắt này tạo cơ hội cho dân chúng tiếp xúc gần gũi hơn với thiên nhiên đồng thời gia tăng khoảng xanh trong thành phố.

XEM TRÊN GOOGLE MAPS

Monday, June 17, 2019

🍻 LY BEER MUỐI





Anh và cô cùng sống ở cùng một thành phố, vì công việc bận bịu nên cả hai không có nhiều thời gian tiếp xúc với nhiều người. May mắn thay mạng xã hội mang họ đến với nhau. Lần đầu gặp mặt, Họ ngồi cạnh nhau trong một quán ăn xinh xắn. Anh căng thẳng đến độ không biết bắt đầu câu chuyện như thế nào. Sự im lặng khiến cô khó chịu.Bỗng nhiên, anh gọi người bồi bàn đến và nói:" Vui lòng cho tôi thêm 500 muối vào ly bia nhé". Mọi người ngạc nhiên nhìn anh nhưng rồi anh vẫn uống hết ly bia đó.
Cô gái tò mò: -Tại sao anh lại có sở thích lạ lùng thế?
Anh trả lời:
- Khi còn là một đứa trẻ, tôi sống gần biển. Lúc ấy do thường chơi đùa trước sóng biển nên tôi có thể nếm được mùi vị của nước, cảm giác nó mặn và có vị chát. Mùi vị ly bia này gợi cho tôi nhớ về tuổi thơ của mình, về ngôi nhà nhỏ bé bên bờ biển và tôi nhớ cha mẹ tôi.và gia đình mình.
Nói đến đây, đôi mắt anh đẫm nước mắt.
Cô vô cùng xúc động trước những cảm xúc chân thật tận đáy lòng chàng trai. Một người đàn ông như thế hẳn là người sống rất tình nghĩa và yêu quí, có trách nhiệm với gia đình. Cô bắt đầu kể về thời thơ ấu, gia đình, công việc ... của mình. Buổi trò chuyện thật tuyệt vời, và đó là sự khởi đầu tốt đẹp. Tuy nhiên họ vẫn còn nhiều bỡ ngỡ, cô không dám đi xa hơn trong buổi hẹn đầu nên chỉ dám đưa anh vào nhà nghỉ phịch mấy cái cho đỡ vã.
...
Khi anh tỉnh dậy, cô đã biến mất. Anh bàng hoàng nhưng khóc không thành tiếng. Chẳng lẽ cô chê cười sự quê kệch ngô nghê của anh? Hay là cô chỉ muốn chơi một phát cho thỏa mãn dục vọng rồi quất ngựa truy phong như bao kẻ phong tình khác. Anh điên cuồng tìm cô khắp nơi, tìm từ ngày này qua tháng khác. Cuối cùng qua một người bạn, anh đã tìm được cô. Ngày cả hai đối mặt với nhau, bao nhiêu chất chứa trong lòng như vỡ òa, anh nghẹn ngào nói :
- Em yêu, hãy tha thứ cho anh vì đã nói dối. Em còn nhớ lần đấu tiên hò hẹn của chúng mình ? Lúc ấy anh đã quá lúng túng, thật ra anh muốn thêm tí đá vào bia nhưng anh đã nói nhầm thành muối... Thật khó để thay đổi lời nói nên anh phải uống hết ly bia đó. Nhưng anh không thể ngờ điều ấy đã bắt đầu cho mối qua hệ của chúng ta. Đã nhiều lần anh định nói sự thât ấy với em nhưng không biết tìm em ở nơi nao. Bây giờ anh không còn lo lắng điều gì nữa, anh muốn cho em biết sự thật: anh không thích uống bia tiger pha muối, vị tởm vl...
Đôi mắt cô nhoè đi và ướt đẫm :
- Em xin lỗi vì đã bỏ rơi anh...Vì đã lấy mất của anh quá nhiều thứ không gì bù đắp được
---
Họ nhìn nhau lần cuối, trước khi cô tra tay vào còng. Ngày 26/07, Công an TP.Biên Hòa (Đồng Nai) vừa cho biết đã kết luận điều tra, chuyển hồ sơ đến VKSND cùng cấp đề nghị truy tố bị can Nguyễn Thị Tố Trinh (33 tuổi) tội trộm cắp tài sản. Nạn nhân là anh T, theo khai báo, chị Trinh đã lừa mất của anh một xe máy, ví tiền, điện thoại di động và một trái tim thổn thức đầy nỗi buồn
.
T/G : KIN YAN

https://plo.vn/phap-luat/mat-tai-san-vi-ham-cua-la-784894.html
























Sunday, June 16, 2019

🇩🇪 VÌ SAO ĐỒ DÙNG ĐỨC CÓ TUỔI THỌ ĐẾN CẢ TRĂM NĂM?



Những năm đây, trên mạng xã hội có một bài viết đã thu hút được sự chú ý của đông đảo mọi người với tiêu đề “Tại sao nước Đức không dám làm đồ giả, đồ dùng đến cả trăm năm”.

Tác giả viết: Đầu những năm 90 của thế kỷ 19, nước Đức đã đẩy mạnh ứng dụng khoa học kỹ thuật để phát triển, trong nửa thế kỷ đã tập hợp được đội ngũ các nhà khoa học, kỹ sư, nhân viên kỹ thuật bậc nhất, dẫn đầu “cuộc cách mạng động cơ đốt trong và điện khí hóa”, làm cho nền kinh tế công nghiệp của Đức có một bước phát triển nhảy vọt.

Từ đó, máy móc, hóa chất, đồ điện, quang học cho đến những đồ dùng trong nhà bếp, đồ dùng thể thao của Đức đã trở thành những sản phẩm có chất lượng vượt trội, dòng chữ “Made in Gemany” đã trở thành sự khẳng định chất lượng và lòng tin. Những công ty nổi tiếng nhất nước Đức dường như đều trưởng thành từ thời kỳ đó, đến nay họ vẫn duy trì danh tiếng của mình trên thế giới.

1. Coi trọng danh tiếng chứ không tham lợi trước mắt
Nước Đức không phải là một dân tộc “có mới nới cũ”, người Đức thích những đồ vật đã được sử dụng có ký ức lịch sử, có ký ức văn hóa. Tác giả bài viết có quen một giáo sư người Đức, trong nhà ông có một cái máy radio to như cái thùng gỗ được sản xuất từ những năm 60 của thế kỷ trước, đến nay ông vẫn sử dụng.

Khi đươc hỏi: “Ông vẫn dùng cái món đồ cũ kỹ này ư?”, vị giáo sư trả lời: “Đúng vậy, tôi vừa nhìn thấy nó, liền nghĩ tới câu chuyện thời thơ ấu gắn với cái máy radio này, đối với tôi nó quý giá hơn mọi thứ!”

✅ Người Đức sản xuất bút bi rơi cắm xuống đất hơn 10 lần vẫn còn dùng tốt.
✅ Người Đức xây nhà hơn 120 năm vẫn chưa đổ, dù bị chiến tranh tàn phá, họ vẫn xây lại theo nguyên dạng ban đầu.

Có một bức ảnh về kiến trúc Đức có tên “nước Đức không thay đổi”, nội dung là căn nhà người Đức sửa lại sau chiến tranh thế giới thứ 2 hoàn toàn là phong cách Baroque và kiến trúc Rococo cuối thời Trung cổ .

Chiến tranh thế giới thứ 2 kết thúc, tất cả các thành phố của Đức đều trở thành một đống hoang tàn, những căn nhà cổ đều bị chiến tranh tàn phá, người Đức đã rất đau lòng, bởi người Đức yêu thích văn hóa của chính họ.

Người Đức nhất định phải tìm ra bức ảnh chụp khi xưa, tìm bản vẽ thiết kế khi xưa, nhất định phải trùng tu từng ngôi nhà một theo đúng nguyên dạng ban đầu. Ngày nay khi bạn đến Đức, phần lớn thành phố đều không có kiến trúc hiện đại, hầu như đều là phong cách Baroque và kiến trúc Rococo.

Nước Đức có một nhà hát opera hoàng gia, trong chiến tranh thế giới thứ 2 đã bị máy bay Mỹ ném bom phá hủy, người Đức vô cùng đau xót, một công trình được xây dựng 200 năm mới hoàn thành mà kết cục lại bị phá hủy trong phút chốc.

Sau Thế chiến 2, người Đức đã khoanh vùng đống đổ nát lại, tập hợp một nhóm hơn 100 nhà khoa học, nhà văn hoá học, khảo cổ học, kiến trúc sư, nhân viên kỹ thuật, họ mất thời gian 35 năm để lợp lại những viên ngói, lát lại những viên gạch bị vỡ nát, hiện nay nhìn thấy nhà hát opere này, bạn không thể biết được nó từng bị bom phá nát rồi được tu sửa lại, và toà kiến trúc này đã trở thành “di sản văn hoá thế giới”.

Người của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên Hiệp Quốc (UNESCO) nói: “Bản thân hành động này chính là di sản văn hoá thế giới”. Chính vì người Đức yêu quý và tôn trọng văn hoá của họ đến mức độ như vậy, do đó mới gọi là “nước Đức không thay đổi”.

Do kinh tế Đức phát triển không dựa vào thị trường bất động sản, cho nên một kiến trúc sư người Đức rất khó để có được một công trình, không dễ trúng thầu, nên nhất định phải chuyên tâm thiết kế, nhất định phải làm công trình trở thành kiệt tác nghệ thuật, nhất định phải để nó lưu danh trăm đời. Do vậy, ở Đức, bạn không thể nào nhìn thấy 2 toà kiến trúc giống hệt nhau. Người ta nói: Kiến trúc sư Đức họ không coi trọng cái lợi trước mắt, mà là danh tiếng phía sau công trình.

 2. Tuân thủ đạo đức nghề nghiệp là trách nhiệm thiêng liêng
Trong một buổi họp báo, một phóng viên nước ngoài đã hỏi người đứng đầu Công ty Siemens rằng: 
“Tại sao một nước Đức với 80 triệu dân lại có tới 2.300 thương hiệu nổi tiếng thế giới?”
Người đứng đầu Công ty Siemens trả lời thế này: “Điều này dựa vào thái độ làm việc của người Đức chúng tôi, đó là sự coi trọng tới từng chi tiết nhỏ của công nghệ sản xuất, nhân viên của công ty Đức chịu trách nhiệm phải sản xuất ra sản phẩm tốt nhất, nghĩa vụ cần cung cấp dịch vụ hậu mãi tốt nhất!”

Phóng viên lại hỏi ông: 
“Mục tiêu cuối cùng của doanh nghiệp chẳng phải là tối đa hoá lợi nhuận sao? Có cần quan tâm tới nghĩa vụ gì đó không?”
Ông trả lời:
 “Không phải thế, đó là kinh tế học của Anh-Mỹ, người Đức chúng tôi có kinh tế học của mình. 
Kinh tế học của người Đức chúng tôi chính là đi theo 2 điểm sau: 
thứ nhất, quá trình sản xuất hài hoà và an toàn;
 thứ hai, tính thực dụng của sản phẩm công nghệ cao.
 Đây chính là linh hồn của các doanh nghiệp, chứ không phải là tối đa hoá lợi nhuận. Sự vận hành của doanh nghiệp không chỉ là vì lợi nhuận, trên thực tế, tuân thủ đạo đức doanh nghiệp và sản xuất các sản phẩm chất lượng ngày càng tốt hơn, là “trách nhiệm thiêng liêng” và nghĩa vụ của doanh nghiệp Đức!” “Trách nhiệm thiêng liêng” là gì, chính là việc mà Thượng Đế muốn bạn làm”.

Tại Đức, không có doanh nghiệp nào bỗng dưng giàu có sau một đêm, cũng như nhanh chóng trở thành tiêu điểm chú ý của thế giới. Họ thường bắt đầu từ những “công ty nhỏ”, “công ty chậm”, chuyên về một lĩnh vực, một sản phẩm nào đó, nhưng hiếm có “công ty kém” nào, chắc chắn không có “công ty giả”. Họ thường là các công ty nổi tiếng có trên 100 năm lịch sử, chú trọng chất lượng sản phẩm và giá cả, được gọi là “quán quân ẩn mình”.

Sản phẩm của Đức không tham gia cuộc chiến cạnh tranh giá cả, không cạnh tranh với các công ty cùng ngành, nguyên nhân là do có được sự bảo hộ trong ngành và do giá cả không quyết định được tất cả. Tạo ra cuộc chiến giá cả sẽ làm cho cả ngành rơi vào vòng tuần hoàn tồi tệ hơn. Doanh nghiệp Đức cũng cần có lợi nhuận, nhưng chỉ cần có thể đảm bảo mức lợi nhuận cơ bản, có thể kiếm được tiền, người Đức họ không tham lam, không chạy theo lợi nhuận một cách thái quá, mà họ nghĩ tới những vấn đề xa hơn và sự phát triển bền vững hơn.

Do vậy, người Đức thà “đồng thời giữ mức lợi nhuận cơ bản, và lấy một phần lợi nhuận chuyển thành sản phẩm chất lượng cao và dịch vụ hoàn thiện hơn”.

Tác giả đã từng ở Berlin và nói chuyện với giám đốc cửa hàng đồ dùng nhà bếp cao cấp Fissler, tác giả hỏi: 
“Người Đức làm ra cái nồi có thể sử dụng trên 100 năm, vì thế mỗi lần bán một cái, trên thực tế họ mất đi một khách hàng, và người ta không tìm đến mua nữa. Người Nhật sản xuất xoong nồi, dùng đến 20 năm là hỏng, 20 năm sau khách hàng lại tìm đến lần nữa. Nghĩ kỹ hơn, anh có làm thế không?
 Tại sao anh lại làm ra những đồ dùng bền như vậy? Làm cho thời gian sử dụng rút ngắn lại, chẳng phải anh có thể kiếm được nhiều tiền hơn sao?”
Vị giám đốc trả lời: 
“Đâu có, tất cả những người mua xoong nồi của chúng tôi đều không cần mua lần thứ 2 nữa, như thế sẽ tạo nên thương hiệu, sẽ có nhiều người khác đến mua đồ của chúng tôi hơn, và hiện giờ công việc của chúng tôi đều đang rất tất bật! Nhà máy sản xuất đồ dùng gia dụng trong nhà bếp của chúng tôi được chuyển từ xưởng chế tạo vũ khí sau chiến tranh thế giới thứ 2, mới chỉ khoảng mấy chục năm thôi nhưng đã bán được hơn 100 triệu xoong nồi, anh có biết dân số trên thế giới là bao nhiêu không ? Gần 8 tỷ người, vẫn còn thị trường với 7 tỷ người đang đợi chúng tôi đấy!”
Cách nghĩ cửa người Đức hoàn toàn khác, chiến lược kinh doanh của họ cũng khác với đại đa số, với một vụ buôn bán thì cả đời bạn chỉ làm một lần, họ làm cho bạn khen đồ của họ tốt, như vậy người khác cũng sẽ biết đến, và sẽ lại trở thành khách hàng của họ, sau đó lại truyền đến tai người thứ 3, họ đã làm như thế.

3. Tìm tòi bản chất, cân nhắc lâu dài
Ngày nay nước Đức chỉ có 3 thành phố được gọi là “thành phố quốc tế hóa” gồm Berlin, Hamburg, Frankfurt, còn những thành phố khác đều là thành phố vừa và nhỏ. Phần lớn người dân Đức đều sống trong các thành phố có 50, 100, 150, 200 ngàn người, ngay cả thành phố có 500 ngàn người sinh sống, họ đã cảm thấy là quá lớn. Phong cảnh của các thành phố ở Đức đều có đặc điểm thế này:
 Nơi cao nhất của thành phố chắc chắn là đỉnh của nhà thờ, những công trình khác không được vượt qua độ cao này.
Tác giả từng nói chuyện với một giáo sư người Đức về vấn đề này:
 Vì sao người Đức lại có thể đúng giờ như vậy?
Vị giáo sư nói:
 “Thành phố nhỏ thì rất dễ dàng giữ đúng giờ!
Vì để giữ đúng giờ, nên cũng cần phải thiết kế cho thành phố nhỏ lại một chút. Anh cần biết, trong thời đại ‘đại chúng hóa ô tô’ thế này, nếu muốn thành phố không bị tắc đường, cần có 2 điều kiện: 
Thứ nhất là bất cứ căn nhà nào cũng không quá 5 tầng, ở Đức, anh muốn xây căn nhà cao 6 tầng, cần phải có hội nghị bỏ phiếu thông qua.
 Thứ 2, bất cứ thành phố nào đều cần có một nửa không gian là đường xá. 
Chỉ cần anh làm được đồng thời 2 điều này, chắc chắn sẽ không có tình trạng kẹt xe”.
Hiện nay, người Đức thường xây nhà cao tầng tại Berlin, Hamburg, Frankfurt, đó cũng là nơi có các tòa nhà cao lớn tầm cỡ thế giới,
 nhưng có một điều kiện, loại nhà cao tầng này nếu đổ xuống từ bất kỳ hướng nào cũng không được đè lên các tòa nhà khác.
 Cho nên các tòa nhà càng cao thì không gian trống xung quanh càng lớn. Đây được gọi là “tìm kiếm bản chất của sự vật, xác định chiến lược lâu dài”. Khi người Đức xây nhà, họ phải tính toán nếu nó đổ xuống thì chuyện gì sẽ xảy ra.

Thành phố của Đức vẫn tràn đầy phong cảnh của thời kỳ trung cổ, nơi cao nhất của thành phố đều là nhà thờ, thành phố Heidelberg là kinh đô của văn hóa du lịch Đức.

4. Người Đức không tin có “hàng tốt giá rẻ”
Ưu thế của hàng “Made in Germany” không phải là giá cả, chính người Đức cũng thừa nhận “hàng Đức là hàng tốt giá không hề rẻ”. Bạn có thể mặc cả giá với người Nhật, nhưng bạn mặc cả với người Đức thì không được. Người Đức không chấp nhận có chuyện “hàng tốt giá rẻ”. Ưu thế của hàng “Made in Germany” chính là chất lượng, công nghệ đặc biệt, dịch vụ hậu mãi ưu việt.

Những sản phẩm thông thường của các doanh nghiệp Đức đều là sản phẩm có trình độ hàng đầu thế giới, độ khó cao, nước khác không thể nhanh chóng làm theo được. Khoảng 30% các sản phẩm xuất khẩu của Đức trên thị trường quốc tế đều là sản phẩm độc nhất không có đối thủ cạnh tranh. Công nghiệp gia công chế tạo của Đức, lớn thì có máy khoan đất làm tàu điện ngầm, nhỏ thì có ghim giấy, từ góc độ chất lượng mà nói thì là bậc nhất thế giới.

Adidas là thương hiệu Đức, nhưng dường như nhiều người không biết.

Tại Đức, tất cả các sản phẩm đồ ăn dùng cho trẻ em dưới 3 tuổi không được chứa bất cứ chất phụ gia thực phẩm nhân tạo nào, bắt buộc phải là chất tự nhiên. Tất cả các sản phẩm sữa bột đều bị quản lý như thuốc; tất cả sản phẩm dành cho mẹ và trẻ sơ sinh chỉ được phép bán tại các tiệm thuốc, không được bán tại các siêu thị; tất cả socola đều được quy định phải sử dụng bơ ca cao tự nhiên làm nguyên liệu sản xuất; tất cả các thương hiệu sản phẩm chăm sóc bảo vệ da đều phải có phòng thực nghiệm và khu gieo trồng thực vật để đảm bảo nguồn nguyên liệu hữu cơ tự nhiên.

Người Đức sản xuất sản phẩm hóa học không dùng trong công nghiệp, ví như nước lau rửa, nước rửa tay, dầu rửa tay, ngoài có công hiệu diệt khuẩn ra, đa số đều sử dụng công nghệ phân giải sinh học, tức là sử dụng vi sinh vật để phân giải thành phần hóa học trong đó. Trong tương lai, tác hại của chất hóa học đối với cơ thể con người sẽ được giảm thiểu tối đa. Bình lọc nước do Đức sản xuất có thể lọc các chất vô cơ có hại, cũng có thể lọc các chất hữu cơ có hại, đồng thời có chứa nguyên tố magie. Nước được lọc bởi bình lọc nước do Đức sản xuất sẽ có vị hơi hơi ngọt.

Người Đức sản xuất một cái nồi, có thể dùng đến cả trăm năm, do đó những xoong nồi người Đức dùng rất nhiều đều là từ thời ông bà để lại.

Thanh Thảo biên dịch