Monday, April 23, 2018

👑👑... NHÂN HUỆ VƯƠNG TRẦN KHÁNH DƯ: TÀI NĂNG, MỐI TÌNH DỊ DU VÀ HẢI CHIẾN VÂN ĐỒN








“Người giỏi cầm quân thì không cần bày trận. Người giỏi bày trận thì không cần phải đánh. Người giỏi đánh thì không thua. Người giỏi thua thì không chết”.


📖
Nghe như một câu nào đó trong Binh Pháp Tôn Tử, nghe như lời của Tào Tháo, của Khổng Minh … trong Tam Quốc Diễn Nghĩa, nghe như lời của Trương Nghi trong Đông Chu Liệt Quốc. Tưởng rằng chỉ có ở Trung Quốc, ở các pho sử của Trung Quốc.

Không, đấy là câu nói tuyệt hay của Trần Khánh Dư.

Ngẫm đi ngẫm lại, đọc đi đọc lại, chỉ có thể dành cho hai từ tuyệt diệu. Những chữ này, đáng để lưu danh thiên cổ, để người Việt có thể nói chuyện và comment với nhau, chứ nào phải rơi rớt ở đâu đó, và giờ ta phải đi nhặt lại, nhắc cho nhau cùng nhớ.

Sự tuyệt diệu thứ 2 là ở đây, câu nói này được Trần Khánh Dư đề tựa trên đầu cuốn “Vạn kiếp bí truyền thư”, cuốn sách bày binh bố trận của Trần Hưng Đạo. Mà Trần Hưng Đạo chính là cha của Hưng Vũ Vương Trần Quốc Nghiễn – người chồng bị Trần Khánh Dư … cắm sừng (dùng từ thế cho dễ hiểu). Cuốn “Vạn kiếp bí truyền thư” giờ đã thất lạc, các tài liệu mà tôi tìm hiểu cũng không nói rõ cuốn sách này được Trần Hưng Đạo viết khi nào. Nếu viết sau vụ án của Thiên Thụy công chúa, thì chúng ta sẽ phải nể phục về cái “nhẫn” của Trần Hưng Đạo trong việc khép lại oán cũ, chỉ dùng người tài. Còn nếu viết trước khi vụ án xảy ra, thì ta cũng phải công nhận là Trần Khánh Dư quá tài hoa. Vì sao nói thế, so sánh tuổi của Trần Khánh Dư và Trần Hưng Đạo. Tác giả Nguyễn Khắc Thuần trong Danh tướng Việt Nam cũng nhận định rằng: “Không tài liệu nào cho hay ngày tháng năm sinh của Trần Khánh Dư, nhưng, căn cứ vào hành trạng cuộc đời của ông, nhất là sự kiện ông đã mưu trí tổ chức những trận đánh úp quân xâm lược Mông - Nguyên trong cuộc chiến tranh vệ quốc lần thứ nhất của triều Trần (1258), chúng ta cũng có thể ước đoán rằng, ông nhỏ hơn Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn chừng mươi tuổi”.

Trần Khánh Dư tuổi trẻ tài cao, đánh giặc lập công từ tuổi trẻ. Một kiểu với Trần Quốc Toản. Nhưng vận mệnh dài hơn Trần Quốc Toản.

1. TÍNH CÁCH:

Hãy thẳng thắn về Trần Khánh Dư để nhiều bạn hâm mộ ông không bị lậm, hoặc hiểu chưa hết đã vội nói “Tôi thích Trần Khánh Dư lắm”. Trần Khánh Dư là một nhân vật “nửa chính nửa tà”. Ông không phải là dạng “yêu nước thương dân” như trong tiểu thuyết, hoặc kiểu được xây dựng để “yêu nước thương dân”.

Đại Việt Sử ký Toàn thư có viết: "Khánh Dư tính tham lam, thô bỉ, những nơi ông ta trấn nhậm, mọi người đều rất ghét. Nhân Tông chỉ tiếc ông có tài làm tướng, nên không nỡ bỏ mà thôi".

Các bạn nên rõ chỗ này, Trần Khánh Dư và Nguyễn Công Trứ mang đặc thù khác biệt so với những người đi theo lối thông thường cùng thời đại. Họ đều là những người tài năng nhưng đi ngược lề lối của thời đại phong kiến, đó là lý do tôi đánh giá hai nhân vật này cùng một kiểu. Nhưng Nguyễn Công Trứ khác Trần Khánh Dư rất nhiều, Nguyễn Công Trứ “ngông” để cười vào cõi đời, tuy vậy ngài vẫn là một nhà nho với tinh thần yêu nước, thương dân thuần túy, còn Trần Khánh Dư lại là “bad boy” thuần túy, ông có tài chiến trận, bảo vệ đất nước, nhưng ông cũng sở hữu cái “tà đạo” với chính quân lính của mình. Từ “badboy” mà tôi dùng không hẳn là nói về cái quan hệ nam nữ, mà là cái “badboy” đối với cả quân lính và người dân mà ông cai quản. Như đã nói ở trên, chính sử viết về ông với đầy đủ thói hư tật xấu nhất.

Nhưng, cũng giống như cách các anh chàng “badboy” quyến rũ các cô nàng, họ có thừa tự tin về tài năng của bản thân, sự mạnh bạo của bản thân, để mang cái xấu, để người đối diện biết rằng xấu, vẫn khiến kẻ đối diện quyến luyến. Trần Khánh Dư cũng có điều ấy, ít ra đang khiến chúng ta đọc say sưa.

Trần Khánh Dư sở hữu một câu nói, mà có lẽ bây giờ có vị quan chức nào phát biểu câu đó, hẳn phải viết đơn từ chức sớm. Đấy là câu "Tướng là chim ưng, dân lính là vịt, dùng vịt để nuôi chim ưng thì có gì là lạ?". Nói xong, liền đi thẳng về nhà vì sợ vua Trần Anh Tông gọi lại giáo huấn. Bạn thấy đấy, không hề hiền lành. Câu nói đó ý tứ rất rõ ràng, và thậm chí là tàn bạo, kẻ làm tướng xem lính như vịt để ăn và mổ. Thực ra chính điều này, lại giúp ông thắng được trận Vân Đồn. Bởi ông dám nướng quân khi để cho đoàn thuyền Ô Mã Nhi đi qua để chặn Trương Văn Hổ lại. Tôi sẽ nói ở phần 2 bài viết.

Tính cách và con người Trần Khánh Dư cần phải đi sâu vào 2 câu chuyện:

+) Đầu tiên, scandal nổi tiếng nhất của triều Trần. Vụ án thông dâm của Trần Khánh Dư và Thiên Thụy công chúa. Thiên Thụy là con gái của vua Trần Thánh Tông, nàng được gả cho Hưng Vũ vương Trần Quốc Nghiễn. Nhưng Trần Khánh Dư và Thiên Thụy vẫn lén lút qua lại với nhau, câu chuyện vỡ lỡ, Trần Khánh Dư bị phạt vì tội thông dâm. Vua Trần tuyên án tử hình Trần Khánh Dư, sai quân lính dùng roi đánh kẻ phạm tội đến chết. Nhưng vì quá yêu tài ông, vẫn lén dặn lính chúc gậy xuống để đánh 100 gậy. Mà theo luật thời đó, quá 100 gậy sống thì trời tha. Vậy là Trần Khánh Dư sống.

Chúng ta cần biết, Trần Khánh Dư đã quen với Thiên Thụy trước đó khá lâu rồi, khi ấy vì những gì thể hiện trong trận chiến Nguyên Mông lần thứ nhất. Vị tướng trẻ tuổi ấy được vua Trần Thánh Tông nhận làm con nuôi, gọi là “Thiên tử nghĩa nam”. Với vị trí là “hoàng tử” (dù là con nuôi). Ông tự do đi vào cung cấm, chơi bời, và có cơ hội gặp công chúa trưởng của cha nuôi mình là Thiên Thụy. Hai người yêu nhau từ khi ấy. Nhưng rồi, Hưng Đạo Vương lại xin Thiên Thụy cho con trai Trần Quốc Nghiễn, vua Trần Thánh Tông để làm đẹp lòng Hưng Đạo Vương đã đồng ý cho Thiên Thụy về Vạn Kiếp. Mối tình niên thiếu của Thiên Thụy và Trần Khánh Dư chính thức đứt đoạn.

Vậy mà, Trần Khánh Dư và Thiên Thụy vẫn quan hệ với nhau khi Thiên Thụy đã về nhà chồng?
Trong lăng kính nào đi chăng nữa, vẫn sẽ thấy đây là một điều đáng để chỉ trích. Ồ, ngoại tình thì không có gì để bào chữa nữa. Nhưng, hãy đặt vào trong hoàn cảnh của thế kỷ XIII khi ấy. Cái cách mà Trần Khánh Dư đã làm với tình yêu bị đứt đoạn ấy, có đáng để trầm ngâm hay không?

Chúng ta đều biết trong thời đại phong kiến, tự do con người chỉ đẩy về hàng thứ yếu, tình yêu chỉ là mộng ảo của cái thiếu niên, khi quyết định hôn nhân đều bị hạ thấp dưới vấn đề quốc gia và dòng tộc. Thân phận nhi nữ được mặc định là quân cờ trong ván bài chính trị của các phe phái, với các cuộc hôn nhân không có tình yêu. Càng đặc biệt hơn khi đây là nhà Trần, với đặc thù về các cuộc hôn nhân “cận huyết” để tránh vết xe đổ của Lý Chiêu Hoàng – Trần Cảnh lặp lại, thì nữ nhân lại càng giống như một món đồ nữa. Trước Thiên Thụy công chúa có ai? Có Lý Chiêu Hoàng, có Thuận Thiên công chúa…đều là những phận đời long đong qua tay người đàn ông này đến người đàn ông kia để phục vụ cho mục đích chính trị.

Có nghĩa, Trần Khánh Dư đã đến với Thiên Thụy công chúa trong hoàn cảnh bị cả xã hội nguyền rủa. Nhưng họ vẫn thông dâm với nhau, cho đến khi bị phát hiện. Trần Khánh Dư và Thiên Thụy bị lễ giáo trói buộc phải rời xa nhau. Nhưng trái tim của họ vẫn nhìn về nhau. Bất chấp bị ngăn cấm, bất chấp cả một thời đại đè lên tự do cá nhân. Trần Khánh Dư với tính cách bạo liệt của ông, đã đến với Thiên Thụy cho bằng được. Hiểu nôm na là ta không có em trong ánh sáng, thì có em ở bóng tôi. Trần Khánh Dư đã đi ngược với thời đại, đạp lên những tôn ti thông thường, cười ngạo vào lễ nghĩa để tôn vinh lên tự do cá nhân của bản thân ông và tình yêu của ông.

Hệt như Dương Quá trong mối tình với Tiểu Long Nữ, một Dương Quá yêu ngay thầy của mình, và thầy mình còn bị mất trinh. Nhưng đối với Dương Quá, một Tiểu Long Nữ mất trinh còn đáng giá hơn hàng vạn cô gái trinh bạch khác. Có người đã bảo Kim Dung cưỡng hiếp cả nền văn minh Trung Hoa để nêu bật lên cái tự do con người. Có lý !

Trần Khánh Dư – Thiên Thụy là ngoại tình, là thông dâm, là bi kịch đoạn cuối cuộc đời. Nhưng họ làm tất cả vì tự do cá nhân của chính bản thân họ.

***

Sau khi đi qua mối tình thú vị ở trên, tôi sẽ đến với các bạn về cái đặc dị của Trần Khánh Dư, lý do vì sao tôi bảo ở đầu bài viết “Ông mang cái tư tưởng đi ngược thời đại”. Chính xác, Trần Khánh Dư đi sớm hơn thời đại.

Các bạn đã được đọc Sử của tôi trước nay, đều hiểu tôi luôn nói nhiều về cái văn hóa “trọng nông ức thương” của lịch sử phong kiến Việt Nam, về cái lý do khiến nhà Nguyễn mất nước vào tay giặc Pháp. Nước Việt Nam vốn hình thành từ một nền văn minh lúa nước, nên văn hóa Việt Nam coi trọng nông nghiệp hơn là giao thương. Sự hình thành của lịch sử với cách xếp hạng “sĩ nông công thương” mà thương xếp cuối vẫn còn đến tận bây giờ. Các bạn sẽ để ý, các câu chuyện cổ tích của chúng ta thường xét đoán “người nghèo là người tốt, người giàu là người xấu”. Các phú ông, con buôn…đều là xấu. Sĩ, nông, công đều được đặt trên thương. Chúng ta luôn chửi con buôn. Ok. Họ là kiểu người coi trọng lợi nhuận lên hàng đầu, nhưng xin nhớ cho, họ là mạch máu của nền kinh tế. Bây giờ Việt Nam đã mở cửa, lịch sử là bài học của tiền nhân để giúp ta hiểu nếu không có thương, thì không phát triển được. Do đó, cái suy nghĩ “người nghèo là người tốt, người giàu là người xấu” trong các bạn luôn cần phải coi lại.

+) Trần Khánh Dư chính là một vị tướng đã làm thương nghiệp ngay từ khi nhà Trần chỉ mải miết coi trọng nông nghiệp.

Tôi hỏi các bạn câu này, xưa đến giờ các bạn chỉ nghe câu “cáo lão về quê”, “về nhà đuổi gà cho vợ”, hoặc các câu chuyện bên Trung Quốc, khi một bậc đại thần nào đó bị cách chức, hoặc chia tay triều đình. Có phải tất cả đều về với ruộng vườn hay không?

“Có con trâu, có nương dâu, thiên đường này mơ ước bao lâu?” (bài hát Giã Từ Vũ Khí)

Nhưng Trần Khánh Dư lại đi … bán than. Vâng, các bạn không nghe lầm, theo lý thì các bác thời phong kiến mà bị đuổi cổ đa phần là về với ruộng vườn thôi. Thế mà Trần Khánh Dư chèo thuyền đi bán than, buôn bán, kiếm giá trị thặng dư. Đấy là cái đặc sắc hiếm có về con người này.

Và thậm chí trở thành một con buôn khi làm chính trị. Trần Khánh Dư là một con buôn chính hãng.

Sau khi được phục chức, chấm dứt nghề bán than trên sông nước. À khoan, phải kể lớp lang thế này cho đầy đủ nhé.

Đại Việt Sử Ký Toàn Thư chép: “ Một ngày tháng 10 năm Nhâm Ngọ (1282), Khánh Dư chở thuyền qua bến Bình Than, nhà vua trông thấy, trỏ vào thuyền bảo quan thị thần rằng: "Người kia có phải là Nhân Huệ vương không". Rồi lập tức sai người chở thuyền nhỏ đuổi theo. Người quân hiệu gọi: "Ông lái kia, vua sai đòi nhà ngươi". Khánh Dư nói: "Ông già là người buôn bán, có việc gì mà gọi đến". Quân hiệu về tâu thực như thế. Vua nói: "Đúng là Nhân Huệ vương rồi, nếu là người thường tất không dám nói thế". Vua lại sai đi gọi. Khánh Dư đến nơi, mặc áo ngắn, đội nón lá. Vua nói: "Nam nhi cực khổ đến thế là cùng". Vua xuống chiếu tha tội, ban cho áo ngự, vị thứ ngồi dưới các vương, trên các công hầu, cùng bàn việc đánh giặc. Ông có nhiều kế hay, đúng ý vua. Nhà vua cho phục chức cũ, lại phong làm Phó tướng quân.”

Sau đó, giặc Nguyên Mông qua, Trần Hưng Đạo với vị trí Quốc công tiết chế, đã phong cho Trần Khánh Dư làm Phó tướng giữ Vân Đồn.

Đến đây, vụ án kinh doanh bắt đầu:

Khi Khánh Dư mới đến trấn giữ Vân Đồn, tục ở đấy làm nghề buôn bán sinh nhai, ăn uống, y phục đều trông vào khách buôn phương Bắc, cho nên quần áo đồ dùng theo tục người Bắc.
Khánh Dư điểm duyệt quân các trang, hạ lệnh rằng: "Quân đóng ở Vân Đồn là để ngăn giữ giặc Hồ; nên không đội nón của phương Bắc, trong khi vội vàng khó lòng phân biệt, nên đội nón Ma Lôi (Ma Lôi là tên một hương ở Hồng Lô, làng này khéo nghề làm nón, nên lấy tên làng làm tên nón) ai trái lệnh tất phải phạt".
Lệnh đã hạ, sai người ngầm bảo người ở trong rằng: "Hôm nọ thấy ở trước cảng, có người chở nón Ma Lôi đậu". Thế là người trong trang nối gót nhau tranh mua nón, bắt đầu mua mỗi cái nón không quá một tiền, đến sau giá cao bán một cái nón giá một tấm vải, thu được một lượng vải đến hàng ngàn tấm.

Bạn biết mấy cái nón đó ở đâu mà có không? Trần Khánh Dư đã sai người nhà mua nón Ma Lôi từ trước, chở thuyền đến đậu ở trong cảng rồi. Mấy cái thuyền, cái nón Ma Lôi đó đều là của đồng chí ấy cả.

Cái câu "Vân Đồn kê khuyển diệc giai kinh" (Gà chó Vân Đồn cũng đều sợ) chính từ đó mà ra. Ngoài việc nói thác kính phục uy danh, nhưng thực ra có ý mỉa mai về vụ buôn bán này đấy.

Đây không khéo là "Đầu cơ chính sách" của thời đại mới. Cho nên tôi luôn muốn các bạn đừng nhìn Trần Khánh Dư theo một màu hồng.

***

Tóm lại:

Trần Khánh Dư, một kẻ tài hoa nhưng không hoàn hảo, một “cơn gió chướng” trong dòng chảy lịch sử Việt Nam với những phát ngôn và hành động thô bỉ, nhưng là một người coi trọng tự do cá nhân trong thời đại phong kiến, một người đạp bằng dư luận mà sống, một không quan tâm miệng lưỡi thiên hạ, một vị tướng, một quý tộc, và cả một sự cô đơn trong một mối tình oan nghiệt.
Nhà văn Lưu Sơn Minh, khi viết tiểu thuyết “Trần Khánh Dư”, đã mở đầu bằng những câu văn mà tôi rất thích.

"Đừng đọc về ta, đừng nhắc chuyện ta, nếu trong lòng ngươi khư khư những tín điều vô vị và bất di bất dịch. Ta là kẻ đạp lên tín điều và giật đổ những bất di bất dịch.
Ta là kẻ sinh lạc nhà, sống lạc thời, và yêu lạc người.
Giữa những dòng chữ của hậu thế, tên ta sẽ đi cùng với những nỗi cô đơn thăm thẳm.
Từ lúc sinh ra cho tới mãi sau này, khi danh tính ta chỉ còn lạc lõng trên các trang giấy, ta vẫn là kẻ độc hành.
Tên ta là Dư..."

//



📖

NHÂN HUỆ VƯƠNG TRẦN KHÁNH DƯ – PHẦN 2: HẢI CHIẾN VÂN ĐỒN

Như các bạn đã đọc ở phần 1. Tôi đã dẫn dắt các bạn đến với câu chuyện về tính cách, số phận và cuộc đời của Trần Khánh Dư. Còn phần 2 của bài viết, tôi sẽ dành tặng cho các bạn câu chuyện về trận Hải chiến Vân Đồn.

Nói về trận đánh này, điều đầu tiên tôi muốn nói với các bạn, đấy chính là tầm quan trọng của trận hải chiến Vân Đồn này.

Trận hải chiến này diễn ra trong “Kháng chiến chống quân Nguyên Mông lần thứ 3” vào năm 1288. Và đa phần chúng ta đều mặc định rằng, chiến thắng quyết định là nằm ở trận Bạch Đằng 1288 do Quốc công tiết chế Hưng Đạo Đại Vương lãnh đạo.
Tuy nhiên một điểm mà rất nhiều người nhầm lẫn là ở đây: Trận chiến Bạch Đằng 1288 và Trận chiến Bạch Đằng 938 tuy đều dùng chung 1 phương pháp là đóng cọc nhọn khiến vỡ tan thuyền giặc. Qua đó đưa dòng sông này trở thành huyền thoại. Nhưng đã có một sự khác biệt rất cơ bản mà nhiều người không để ý.

- Trận chiến năm 938 là Ngô Quyền chặn đánh thế tấn công của giặc phương Bắc đang đánh thẳng vào Đại La.
- Trận chiến năm 1288 là Trần Hưng Đạo tiêu diệt đoàn thuyền của giặc phương Bắc … đang rút chạy.

Đấy. Vấn đề là ở chỗ đó đấy! Một bên là phòng thủ còn bên kia là rút chạy. Câu hỏi đặt ra, vì sao quân Nguyên lại rút chạy để rồi rơi vào bẫy của Hưng Đạo Đại Vương?

Câu trả lời: vì Trần Khánh Dư đã đánh tan thuyền lương của Trương Văn Hổ ở trận hải chiến Vân Đồn !

Vậy thì trận đánh nào có tính bước ngoặt hơn?

Chính là trận hải chiến Vân Đồn.

Nếu không có trận Vân Đồn, sẽ không có trận Bạch Đằng. Nói nôm na, nếu ví Đại Việt và Đại Nguyên là hai đối thủ trên sàn boxing, thì trận Vân Đồn là cú móc trái khiến quân Nguyên Mông tối tăm mặt mày, còn trận Bạch Đằng là cú móc hàm khiến quân Nguyên Mông đổ gục toàn bộ.

Đấy, bạn đã hiểu vì sao hải chiến Vân Đồn và cái tên Trần Khánh Dư sống mãi với non sông chưa? Kháng chiến chống quân Nguyên Mông lần thứ 3, ông là nhân vật chính là ở đó đấy. Xưa giờ, chúng ta đều xếp các trận hải chiến của Việt Nam thì Bạch Đằng, Rạch Gầm Xoài Mút, hay Thi Nại … đều được xếp hàng đầu, ít nhiều đã quên đi trận hải chiến Vân Đồn này. Do vậy, các bạn phải nhớ giá trị của chiến thắng đó. Có 1 giá trị nhỏ: đây là trận đánh trên biển, còn đa phần chúng ta hay đánh trên sông thời phong kiến.

Trước mắt, tôi sẽ dành cho các bạn những đoạn trích cơ bản trong chính sử về diễn biến trận đánh này. Sau đó, tôi sẽ luận giải theo góc nhìn của tôi. Các bạn có thể theo hay không theo, tùy các bạn nhé.

//

1/ Đại Việt sử ký toàn thư chép: “Ngày 30/12/1287, thái tử Nguyên A Thai cùng Ô Mã Nhi họp 30 vạn quân đánh Vạn Kiếp rồi thuận dòng xuôi về đông.
Cùng thời điểm đó, thủy quân Nguyên do Ô Mã Nhi gồm 650 chiến thuyền đánh vào Vân Đồn. Trần Khánh Dư chỉ có 100 chiến thuyền nên không chống đỡ nổi địch, thất bại nhanh chóng. Tin đến tai triều đình, vua Trần sai trung sứ xiềng Khánh Dư giải về kinh. Khánh Dư nói: "Lấy quân pháp mà xử, tôi cam chịu tội, nhưng xin khất hai, ba ngày để mưu lập công rồi về chịu tội búa rìu cũng chưa muộn".
Vua Trần thấy được sự tự tin của Trần Khánh Dư, nên đã đồng ý cho Trần Khánh Dư lập công chuộc tội. Vì lợi dụng được bọn nội gián, nên ông biết được con đường tải lương của giặc. Ông lập tức thu thập tàn binh đợi chúng. Chẳng bao lâu thuyền vận tải quả nhiên đến, Khánh Dư đánh bại chúng, bắt được quân lương khí giới của giặc nhiều không kể xiết, tù binh cũng rất nhiều...”.

2/ Khâm Định Việt sử thông giám Cương Mục thì chép: “Khánh Dư đoán chắc thuyền của giặc đã đi qua rồi, thì thuyền tải lương tất đi theo sau, liền thu thập tàn quân, sẵn sàng chờ đợi. Một lát sau, quả nhiên thuyền tải lương của Văn Hổ đến, Khánh Dư đón đánh, quân Nguyên bị thua to. Khi đi đến biển Lục Thủy Dương (nước biển vịnh Bắc Bộ màu xanh thẫm, nên người Tàu gọi như vậy), thuyền của quân Nguyên bị mắc cạn, sa lầy, không chở đi được, lương thực chìm cả xuống biển. Khánh Dư bắt được khí giới, quân nhu rất nhiều. Văn Hổ chỉ thoát được một mình, vội vàng chạy về Quỳnh Châu...”.

3/ Việt Nam Sử Lược của Trần Trọng Kim viết: “Ô Mã Nhi đem thuyền đi đến ải Vân Đồn gặp quân của Trần Khánh Dư chặn đường không cho đi. Ô Mã Nhi thúc quân đánh rát một trận, quân Khánh Dư thua bỏ chạy cả. Quân Nguyên kéo thẳng ra bể đi đón thuyền lương...
Được mấy hôm Ô Mã Nhi ra bể gặp thuyền lương của Trương Văn Hổ, lại đem quân trở vào đi trước dẹp đường, Trương Văn Hổ đem thuyền lương theo vào sau... Trương Văn Hổ tải các thuyền lương vào cửa bể Lục Thủy Dương. Khánh Dư đổ quân ra đánh, Văn Hổ địch không nổi, bao nhiêu thuyền lương bị quân Khánh Dư phá cướp mất cả, và bắt được khí giới rất nhiều...”.

Rồi, cơ bản là các bạn nắm ý như thế. Diễn biến trong chính sử cũng chỉ chép đến thế. Trần Khánh Dư thua Ô Mã Nhi và thắng Trương Văn Hổ.

Vấn đề là, mọi thứ có đơn giản như vậy không?

***

Hãy quay lại tính cách của Trần Khánh Dư mà tôi đã viết ở phần 1 (ai chưa đọc có thể xem trong album LỊCH SỬ). Trần Khánh Dư có một câu nói nổi tiếng và không kém phần tàn bạo:

"Tướng là chim ưng, dân lính là vịt, dùng vịt để nuôi chim ưng thì có gì là lạ?".

Đi sâu vào cuộc đời của Trần Khánh Dư, bạn có thể thấy, ông ta sẵn sàng “lợi dụng chức vụ và quyền hạn để trục lợi” trên chính người lính của mình, điển hình là chuyện nón Ma Lôi.
Do đó, từ lời nói và hành động mà suy thì Trần Khánh Dư là người sẵn sàng nướng quân vì mục đích cao hơn. Vị “Thiên tử nghĩa nam” này có cùng một kiểu sử dụng quân lính tương đồng với Quang Trung, và khác kiểu của tướng Giáp và Trần Hưng Đạo – những người đặt lòng nhân cao hơn. Trần Khánh Dư rất thô bạo, Đại Việt sử ký toàn thư thì dùng từ là “thô bỉ, tham lam”.

Đó là cái lưu ý thứ nhất: tính cách Trần Khánh Dư với lính dưới quyền.

***

Lưu ý thứ hai là gì?

Trần Khánh Dư là một con buôn. Mà đã là con buôn thì luôn cân nhắc về “buôn lỗ” hay “lời”. Ông rất giỏi nghề kinh thương, khác với các vị tướng cùng thời đại, Trần Khánh Dư bán than, bán mũ…kiếm giá trị thặng dư.

Đặc thù suy nghĩ con buôn đó là: sẵn sàng “bỏ vốn” để “lấy lời”.

Bạn chú ý lưu ý thứ hai đó. Vì điều này sẽ giúp bạn luận ra kế sách của Trần Khánh Dư với Ô Mã Nhi.

***

Lưu ý thứ ba là gì? Tài năng cầm quân ra trận của Trần Khánh Dư.

Ông là người đã đề tựa trên đầu cuốn “Vạn kiếp bí truyền thư”, cuốn sách bày binh bố trận của Trần Hưng Đạo. Câu nói là thế này “Người giỏi cầm quân thì không cần bày trận. Người giỏi bày trận thì không cần phải đánh. Người giỏi đánh thì không thua. Người giỏi thua thì không chết”.

Hãy chú ý câu chốt “Người giỏi thua thì không chết” – Trần Khánh Dư là người biết … cách thua. Vậy câu hỏi đặt ra, Trần Khánh Dư có thật sự thua Ô Mã Nhi như chính sử đã chép? Hay là ông … cố tình thua?

Như đã nói ở lưu ý thứ ba này: Trần Khánh Dư là tướng tài. Mà đã là tướng tài, thì nào lại không hiểu cái bản chất cốt lõi của quân Nguyên Mông, đấy là vấn đề lương thực.

//

Tôi đã viết gì trong SỬ VIỆT – 12 KHÚC TRÁNG CA nhỉ? Xin trích lại ở khúc ca số 7 nhé:

“Để miêu tả về sức mạnh quân Mông Cổ, một nhà sử học thời Tống bên Trung Quốc đã viết: “Hoặc xa hoặc gần, hoặc nhiều hoặc ít, hoặc hợp lại hoặc tản ra, hoặc ẩn hoặc hiện, đến thì như trên trời rơi xuống, đi thì nhanh như chớp giật. Kẻ địch chia ra thì họ chia ra, kẻ địch hợp lại thì họ hợp lại. Họ mà thắng thì đuổi theo quân địch chém giết, không để trốn thoát. Họ mà thua thì chạy rất nhanh, đuổi theo không kịp.”
Đoạn miêu tả ấn tượng ấy giúp ta thấy sức mạnh khủng khiếp của binh đoàn này, nhưng đây là điểm mạnh mà cũng là điểm yếu của quân lính Mông Cổ. Chính vì sống trên lưng ngựa, đánh thắng trên lưng ngựa nên ngựa trở thành điểm chính yếu cho sự tồn tại của kỵ binh. Tốc độ hành quân quá nhanh dẫn đến lương thảo thường không theo kịp, quân sĩ bởi vậy thường mang theo lượng lương thảo tinh giảm và gọn nhẹ nhất, chủ yếu sẽ là “tự cung tự cấp”, chém giết các điểm đến để lấy thức ăn cho người và ngựa.
Sinh thời, Thành Cát Tư Hãn cũng đã từng nói: “Phải chinh phạt kẻ thù, phải bắt kịp kẻ thù, phải cướp bóc tài sản của bọn chúng…” Nhưng nếu không có gì để mà cướp thì sao? “Vườn không nhà trống” của Đại Việt chính là lời hồi đáp cho câu hỏi đó. Việc này khiến quân thiết kỵ Mông Cổ chưng hửng. Cướp phá chẳng được gì, lương thực thì cạn kiệt. Đến một thời điểm nhất định, chỉ cần dùng đại quân đã được ém kỹ, lấy sức nhàn đánh quân mệt, nổ một phát sấm sét là coi như thành công.”
(Trích :Sử Việt - 12 khúc tráng ca)

Đấy, cái điểm mạnh của quân Nguyên Mông là tốc độ, cái điểm yếu là lương thực. Vì vậy nên Trần Thủ Độ và Trần Hưng Đạo đã áp dụng chiến lược "vườn không nhà trống” mà thắng lợi ở lần 1 và lần 2.

Thua lần 1 và lần 2 cùng một lý do, thì cớ gì quân Nguyên Mông không biết rút kinh nghiệm trong lần đánh Đại Việt thứ 3 (minh chứng ở chuyện, Thoát Hoan đã cho đoàn thuyền chở nhiều lương thực sang hỗ trợ).

Nếu quân Nguyên Mông biết rút kinh nghiệm, thì cớ gì Trần Khánh Dư lại không biết mà tấn công vào đó? Tức là Trần Khánh Dư đánh Trương Văn Hổ (người chở lương) là chính, chứ đâu phải đánh Ô Mã Nhi (người chở lính) là chính?

Bởi thử tưởng tượng cái cảnh Thoát Hoan có lương thực ở Thăng Long. Đại Việt chỉ có gục !

Nếu không biết cái cốt lõi đó, thì Trần Khánh Dư đâu phải là tướng tài? Và nếu như trong chính sử viết Trần Khánh Dư thua là thua, sau đó bị ép mà thắng. Vậy e rằng đó chỉ là miêu tả một người “khốn cùng liều thân” để chuộc tội, chứ không phải miêu tả tướng tài rồi ! Tuy nhiên chính sử đã cài cắm một ý rất tuyệt ở đây “Lấy quân pháp mà xử, tôi cam chịu tội, nhưng xin khất hai, ba ngày, để mưu lập công rồi về chịu tội búa rìu cũng chưa muộn“. Thường thì quan niệm cũ “quân xử thần tử thần bất tử bất trung”. Nhưng tại sao Trần Khánh Dư lại có thể điều đình được như vậy? Và còn nữa, vì sao vị trung sứ đưa lệnh triệu hồi về triều của Thượng hoàng Thánh Tông lại có thể im lặng và đồng ý? “Thiên tử nghĩa nam” làm gì mà to hơn “Thiên tử”?

Có nghĩa tất cả đều tin có bước thứ 2 trong kế hoạch đó.

Nhắc lại 3 lưu ý:
1/ Trần Khánh Dư là một đại tướng không xót mạng binh lính, sẵn sàng hy sinh binh lính vì mục đích cao hơn.
2/ Trần Khánh Dư là con buôn, mà con buôn thì chẳng bao giờ đi buôn lỗ vốn.
3/ Trần Khánh Dư là tướng tài.

Kết hợp cả 3 yếu tố này lại, ta có gì đây? Trần Khánh Dư đã “nướng quân” lần 1 với Ô Mã Nhi, tất cả để dồn chủ lực mà tiêu diệt Trương Văn Hổ.



//

Theo tư duy và góc nhìn của tôi, trận chiến đó phải diễn ra như thế này:

Thủy quân Nguyên do Ô Mã Nhi gồm 650 chiến thuyền đánh vào Vân Đồn, dọn đường cho đoàn thuyền chở lương của Trương Văn Hổ vào Đại Việt. Trần Khánh Dư sai 100 chiến thuyền với đa số quân già yếu ra cự địch, thất bại nhanh chóng. Quân Đại Việt thiệt hại nặng, chết rất nhiều, binh sĩ tử trận. Ô Mã Nhi thắng trận lớn, ông ta tin rằng chủ lực phòng ngự Đại Việt đã tan tành. Ô Mã Nhi theo thói quen, liền hành quân thần tốc, tiến nhanh vào Đại Việt để lập công đầu. Vị tướng nhà Nguyên sau khi thắng Trần Khánh Dư đã mang niềm tin rằng con đường chở lương đã được ông ta dọn dẹp thông thoáng, và Trương Văn Hổ sẽ thoải mái đi vào mà chẳng ai ngăn trở, qua đó sẽ cung cấp lương thực cho Thoát Hoan tại Thăng Long, tránh tình trạng đói khổ, bệnh tật như những lần trước.

Nhưng Ô Mã Nhi không ngờ rằng, Trần Khánh Dư đã nướng quân của mình trong đợt đầu (đấy là "bỏ vốn" làm ăn) để khiến Ô Mã Nhi nhầm tưởng rằng ông ta đã thắng hết quân Đại Việt. Thực tế, quân chủ lực của Trần Khánh Dư chưa ra trận, mà đã được ém sẵn xung quanh biển Vân Đồn để đánh vào mục tiêu chính, cái mục tiêu đã giúp Đại Việt giữ được bờ cõi suốt hai lần xâm lăng trước: LƯƠNG THỰC (đấy là "lãi").

Cùng thời điểm, Trương Văn Hổ nhận được tin tình báo từ Ô Mã Nhi về chiến thắng, và con đường thông thoáng đã được mở ra, liền thong thả hành quân vào Vân Đồn như chốn không người, chẳng ai phòng thủ. Mà không biết rằng, ông ta đang hành quân vào cõi chết.

Khi quân Trương Văn Hổ đi vào trận địa phục kích, Trần Khánh Dư liền phất cờ cho quân chủ lực 4 mặt ào ra đánh. Hãy tưởng tượng tình cảnh Trương Văn Hổ khi đó. Thuyền lương thì chậm chạp, hành quân thì sơ sài, phòng bị thì không có. Sự bất ngờ, không phòng bị, cùng vấn đề của quân yếu đánh với quân mạnh, Trương Văn Hổ chỉ có bại, tuyệt không có thắng. Khi ông ta đã đối diện với quân chủ lực chính thức của Trần Khánh Dư giờ mới ra trận. Còn quân chủ lực của quân Nguyên thì đã theo Ô Mã Nhi đi vào sâu trong nội địa Đại Việt (vì tưởng đã thắng) rồi.

Đấy, chính là toàn cảnh của trận chiến Vân Đồn.

Bài viết này, không thể viết ra một cách chi tiết. Mà chỉ vạch ra một đường hướng tư duy mới cho các bạn, ngoài các dòng sơ sài của chính sử. Tôi hy vọng rằng thế hệ sau tôi, trước tôi, sẽ có người vẽ lại được Hải Chiến Vân Đồn một cách chi tiết nhất, và đầy đủ nhất.

//

Ở đây Trần Khánh Dư đã thắng ở chiến lược lớn là “rút củi đáy nổi”, tức đánh vào trọng tâm của giặc là lương thực, còn thực hiện mưu kế “vứt gạch lấy vàng”.

Điều đó binh pháp gọi là: “Biết người biết ta, tránh chỗ mạnh mà đánh vào chỗ yếu, xuất kỳ bất ý đánh vào chỗ không phòng bị”. Sau này Lê Lợi cũng áp dụng kế sách này, mà thắng trong khởi nghĩa Lam Sơn.

Bước tiếp theo,

"Trần Khánh Dư sai chạy ngựa mang thư về báo. Thượng hoàng tha cho tội trước không hỏi đến và nói: chỗ trông cậy của quân Nguyên là lương thảo khí giới, nay ta đã bắt được, sợ nó chưa biết, có thể còn hung hăng chăng? Bèn tha những tên bị bắt về doanh trại Nguyên để báo tin. Quân Nguyên quả nhiên rút lui. Cuối cùng thảm bại ở Bạch Đằng. Cho nên năm này, vết thương không thảm như năm trước, Khánh Dư có phần công lao trong đó."
(Trích Đại Việt sử ký toàn thư).

Lúc này ở đất liền, Thoát Hoan một mình trong Thăng Long không có lương thực. Quân lính đói rét, bệnh tật, thủy thổ không hợp. Cùng thời điểm, Trần Hưng Đạo tấn công lại các vùng bị chiếm, Thoát Hoan lại phải rút chạy. Nói không ngoa, một trận Vân Đồn, đã khiến gió đổi chiều trong cuộc chiến chống quân Nguyên Mông lần thứ 3.

//

Để tưởng nhớ và ghi nhận công lao to lớn của Trần Khánh Dư. Ở đảo Quan Lạn (Vân Đồn, Quảng Ninh), người dân lập đền thờ Trần Khánh Dư, họ tôn ông làm Thành hoàng và thờ tự tại đình Quan Lạn. Hàng năm, người dân trong vùng tổ chức lễ hội Quan Lạn vào trung tuần tháng 6 âm lịch để tưởng nhớ công lao của ông, cùng các tướng sĩ đã làm nên trận hải chiến oanh liệt. Ngoài đền ông, còn có đền thờ 3 vị tướng họ Phạm - phó tướng của Trần Khánh Dư trong trận hải chiến Vân Đồn, đấy là Phạm Công Chính, Phạm Quý Công và Phạm Thuần Dụng. Những người đã hy sinh anh dũng trong trận đánh này. Đã phục kế nấp thuyền trong sương mù để tiêu diệt đoàn quân của Trương Văn Hổ.

Vân Đồn sắp tới cũng như Phú Quốc, sẽ được chính phủ cơ cấu thành “đặc khu kinh tế”, khi ấy chắc chắn lượng khách thập phương sẽ đổ đến nhiều, các bạn - những người đang đọc bài viết này, rồi cũng sẽ có cơ hội đến đó. Nếu có dịp ghé thăm Vân Đồn, các bạn nhớ thắp hương cho vị tướng tài Trần Khánh Dư. Người mà 700 năm trước, đã tạo bước ngoặt quan trọng cho chiến thắng quân Nguyên Mông lần thứ 3, và giữ nên bờ cõi Đại Việt còn mãi đến hôm nay.

Năm 1323, tức 35 năm sau chiến thắng quân Nguyên Mông lần thứ 3. Trần Khánh Dư xin về trí sĩ. Ở những năm cuối đời, ông đã góp phần khai khẩn nên hai xã Yên Nhân và Yên Đồng, của huyện Ý Yên (Nam Định) ngày nay. Tạo nên đóng góp lớn nhất của ông trong thời bình.

***

Lời kết:

Năm 1340, Trần Khánh Dư mất. Khép lại chặng đời của một vị tướng thật đặc biệt trong lịch sử thời đại phong kiến của Việt Nam. Một vị tướng trên tầm thời đại về kinh doanh, về tự do con người. Ông đã sống bằng cái chất ngạo nghễ ít ai bằng, và sự kiêu hãnh đạp trên thói đời của thiên hạ ít ai hơn, ông phá đảo những tàn tích cũ kỹ. Chuyện mình, mình làm, không quan tâm đến những gì sau lưng. Cuộc đời ông có sai, có đúng, có bi kịch, có vinh quang, nhưng ông đã không hổ thẹn một kiếp người. Khi khép lại tất cả, ông là vị tướng đã tạo nên công tích còn mãi đến ngàn thu, nhưng cũng đã để lại một câu nói và hành động tàn bạo với người dưới quyền, cùng kiểu đánh "nhất tướng công thành vạn cốt khô" .

Trần Khánh Dư, một người gây tranh cãi, nhưng bất kể người đời nói gì, vẫn cười nhếch mép !
//

Một câu chuyện bên lề tôi dành tặng cho các bạn: ngoài các tên đường, thì tên của ông được đặt cho tên một khu trục hạm lớn nhất của hải quân VNCH trước 1975, đó là Khu trục hạm Trần Khánh Dư (HQ-04). Đã từng tham gia trận Hải chiến Hoàng Sa năm 1974, và sau này đã đi theo Quân đội nhân dân Việt Nam, phục vụ cho tới năm 1997.

📖

Sài Gòn,  08/09/2017
(Dũng Phan)